Khảo sát trên các nền tảng trực tuyến cho thấy biên độ giá sách cũ rất rộng. Có những ấn bản phổ thông ở mức vài chục nghìn đồng, như Nước vẫn xanh dòng của Tôn Nữ Hỷ Khương niêm yết 20.000 đồng trên trang Sách cũ Nhiên. Ở phân khúc cao hơn, các bản in trước năm 1975 như Hương rừng Cà Mau (Lá Bối, 1967) hay Đồng bằng sông Cửu Long hay là văn minh miệt vườn (An Tiêm, 1970) có giá từ 250.000 đến 500.000 đồng.
Trên nền tảng Oreka, một số tác phẩm hiếm được chào bán với giá hàng triệu đồng, trong đó Gò Công cảnh cũ người xưa (1969) được rao 5 triệu đồng, hay An Nam chí lược của Lê Tắc, được mô tả là do Viện Đại học Huế xuất bản năm 1961, lên tới 8,5 triệu đồng. Dù vậy, con số niêm yết trên mạng chủ yếu phản ánh kỳ vọng của người bán, còn giao dịch thực tế thường qua thỏa thuận riêng.
Mức giá cao của sách cũ tồn tại nhờ nhóm khách hàng có nhu cầu đặc thù. Nhiều giảng viên, nhà nghiên cứu chấp nhận chi trả số tiền lớn để tìm kiếm các bản in gốc phục vụ đối chiếu văn bản. Chủ một tiệm truyện tranh tại Hà Nội từng chi ba đến 20 triệu đồng cho mỗi bộ truyện ngừng xuất bản, mất 6 đến 7 năm gom đủ kỳ. Không ít sinh viên ngành ngữ văn cũng chắt chiu kinh phí mua các đầu sách hiếm làm khóa luận tốt nghiệp. Thị trường duy trì được phân khúc giá cao bởi sản phẩm giải quyết được bài toán tư liệu mà các bản in hiện hành không đáp ứng được.
Nhiều ấn bản sách cũ, sách xưa được người bán niêm yết từ vài trăm nghìn đến hàng triệu đồng tùy theo độ hiếm và tình trạng bảo quản. Ảnh: Bá Tân sách xưa
Theo tài liệu Your Old Books của Bộ phận Sách hiếm và Bản thảo thuộc Hiệp hội Thư viện Đại học và Nghiên cứu Mỹ (RBMS/ACRL), niên đại tự thân không quyết định giá trị của một cuốn sách. Độ khan hiếm phải đi kèm tầm quan trọng của nội dung, tình trạng vật lý và nhu cầu thị trường. Một cuốn sách lưu hành ít nhưng không ai tìm mua vẫn có giá trị thương mại thấp.
Ngược lại, với giới nghiên cứu, các chi tiết như lời tựa, dị bản, chú giải hay minh họa giữa các lần in là cứ liệu lịch sử văn bản đắt giá. Hiệp hội Những người kinh doanh sách cổ Mỹ (ABAA) chỉ ra các yếu tố cấu thành giá gồm tình trạng bảo quản, kỹ thuật đóng bìa, lai lịch sở hữu và lời đề tặng. Ngay cả chữ ký tác giả cũng cần phân loại, chữ ký đại trà không làm tăng giá đột biến, trong khi thủ bút kèm lời đề tặng cho nhân vật sở hữu mới tạo nên giá trị sưu tầm.
Về phía người kinh doanh, mức giá bán ra không đơn thuần là chi phí nhập hàng cộng biên độ lợi nhuận. Người bán phải đầu tư thời gian khảo sát hàng loạt tủ sách gia đình, chấp nhận mua trọn lô chỉ để lấy vài cuốn giá trị, sau đó xử lý ẩm mốc, phục chế và lưu kho chờ người mua phù hợp. Chi phí tuyển chọn và bảo quản này chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu định giá.
Để tránh rào cản giá cao, thị trường cần phân định mục đích mua để đọc hay mua để sưu tầm. Người cần đọc nội dung có thể tìm đến bản in mới, bản sao chụp hoặc số hóa. Người sưu tầm mới cần tìm bản in đầu, bìa nguyên bản hoặc dấu tích sở hữu cá nhân. Nếu một tác phẩm được tái bản rộng rãi và bản cũ không có đặc điểm lưu trữ đặc biệt, người mua nên lấy giá bìa bản mới làm thước đo tham khảo để tránh bị "thổi giá".
Khi giao dịch qua thương mại điện tử, tính minh bạch là yếu tố quyết định. Người bán cần cung cấp hình ảnh chi tiết từ bìa, gáy, trang tên sách, thông tin xuất bản đến các khuyết tật vật lý như vết ố, trang rách, phần bìa phục chế hoặc phụ bản bị thiếu. Việc giải trình nguồn gốc và tình trạng thực tế giúp người mua hiểu rõ khoản tiền mình bỏ ra, đồng thời bảo vệ uy tín cho người làm nghề.
Ở góc độ tiếp cận tri thức, việc sở hữu tư liệu không nên chỉ phụ thuộc vào túi tiền cá nhân. Các thư viện chuyên ngành cần chủ động nguồn kinh phí để bổ sung sách quý vào kho lưu trữ công cộng, các nhà xuất bản có thể khảo sát nhu cầu để tái bản có bản quyền những công trình học thuật khan hiếm. Việc chia sẻ nguồn tư liệu qua số hóa, cho mượn nghiên cứu từ các bộ sưu tập tư nhân, hay đa dạng hóa mô hình tại hiệu sách (cho thuê, đổi sách, lập kệ sách giá thấp) sẽ giúp mở rộng khả năng tiếp cận tri thức.
Một thị trường sách cũ dễ tiếp cận cần nhiều lựa chọn cùng tồn tại với bản sưu tầm được mô tả và định giá có căn cứ, bản đọc có mức giá phù hợp, tài liệu có thể mượn hoặc tra cứu, tài liệu được số hóa. Khi những con đường ấy được mở rộng, người bán sách cũ có cơ hội duy trì công việc, còn người đọc có thêm cơ hội đến với cuốn sách họ cần. Có lẽ, sự công bằng với sách cũ bắt đầu từ việc thừa nhận những nhu cầu khác nhau ấy. Người giữ sách cần được trả công xứng đáng cho sự hiểu biết và công sức. Người mua cần được cung cấp thông tin chính xác và người cần đọc có những con đường tiếp cận với sách cũ phù hợp khả năng.
Hà Thanh Vân