Cuộc gọi muộn sau 25 năm
Đầu tháng 10/2026, Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển công bố giải Nobel Hóa học năm 2026 thuộc về Henri B. Kagan, Giáo sư danh dự Đại học Paris-Sud (Pháp), và Giáo sư Nhật Bản Kenso Soai, vì khám phá hiệu ứng phi tuyến và hiện tượng tự xúc tác trong tổng hợp hữu cơ bất đối xứng. Ở tuổi 95, nhà khoa học người Pháp là người cao tuổi thứ hai được vinh danh, chỉ sau John Goodenough ở tuổi 97.
Thực tế, công trình đưa Henri Kagan tới Stockholm được thực hiện từ năm 1986. Trước đó 15 năm, ông là người đầu tiên tìm ra phối tử đối xứng C2 (DIOP) và tạo ra bước ngoặt lý thuyết trong lĩnh vực xúc tác bất đối xứng. Thế nhưng, quy tắc giới hạn trao giải cho tối đa ba người, cùng việc Ủy ban Nobel đặt nặng tính ứng dụng công nghiệp đã khiến nhà khoa học người Pháp bị gạt khỏi danh sách.
Giới hóa học Pháp đã bày tỏ sự kinh ngạc và thất vọng. Nhà nghiên cứu nổi tiếng Didier Astruc viết bài luận đanh thép mang tên “Giải Nobel Hóa học bị đánh cắp khỏi tay Henri Kagan” đăng trên tờ Le Monde ngày 15/10/2001, phân tích sâu sắc các đóng góp nền tảng của Kagan và công khai chỉ trích quyết định của Ủy ban Nobel. Thậm chí, Bộ trưởng Nghiên cứu và Khoa học Pháp khi ấy, ông Roger -Gérard Schwartzenberg, đã gửi thư khiếu nại tới Quỹ Nobel.
Chính năm đó, giải Wolf về hóa học, giải thưởng chỉ đứng sau Nobel về độ danh giá, được trao cho ba người, trong đó có Henri Kagan. Trong năm 2002, nhà khoa học người Pháp cũng được xướng tên với giải thưởng Ryoji Noyori đầu tiên (mang tên nhà khoa học Nhật Bản nhận Nobel hóa học năm 2001). Ông cũng được phong Hiệp sĩ Bắc đẩu Bội tinh cùng.
Năm 2005, Viện Franklin của Mỹ trao cho ông Huy chương Benjamin Franklin. Năm 2013, ông nhận Huy chương Lavoisier - giải thưởng cao quý nhất của Hội Hóa học Pháp, đặt theo tên Antoine Lavoisier (vốn được mệnh danh là “cha đẻ của ngành hóa học hiện đại”). Rõ ràng, vị thế của Henri Kagan chưa bao giờ suy giảm.
Phát hiện từ một nghi ngờ
Để hiểu tại sao công trình của Kagan xứng đáng chờ đợi lâu đến thế, chúng ta cần nhìn lại những thảm họa y tế đầu giai đoạn 1960. Hàng nghìn trẻ em trên thế giới sinh ra với dị tật bẩm sinh do thuốc an thần thalidomide. Khi phân tích nguyên nhân, các nhà nghiên cứu nhận ra thủ phạm chính là hình ảnh phản chiếu của hoạt chất. Nhiều phân tử tồn tại ở hai dạng đối xứng gương, giống hai bàn tay trái và phải. Trong thuốc, bên này có khả năng chữa bệnh, bên còn lại có thể vô hại hoặc là nguyên nhân gây ra dị tật kia.
Khi các nhà hóa học tạo phản ứng trong ống nghiệm, kết quả gần như luôn là hỗn hợp cân bằng của cả hai. Dẫu vậy, thứ nhân loại cần là phương pháp buộc các phản ứng chỉ sinh ra đúng một bên. Để làm điều đó, giới nghiên cứu dùng chất xúc tác bất đối xứng và dồn gần như toàn bộ nỗ lực để làm cho chất xúc tác tinh khiết nhất có thể.
Thời điểm ấy, giới nghiên cứu tin rằng độ tinh khiết của chất xúc tác truyền thẳng sang sản phẩm theo tỷ lệ một đổi một. Còn Kagan lại nghi ngờ giả định này và rồi chứng minh điều đó không hoàn toàn chính xác. Trong nhiều trường hợp, chỉ cần một chênh lệch rất nhỏ nghiêng về một bên ở chất xúc tác cũng đủ để khuếch đại thành chênh lệch rất lớn ở sản phẩm. Hiện tượng ấy được gọi là hiệu ứng phi tuyến, biến việc tạo ra phân tử “thuận một tay” từ chỗ may rủi thành chỗ có thể tính toán.
Giải thích ngắn gọn là vậy, nhưng phải mất tới 11 năm sau lần bảo vệ luận án tiến sĩ, Kagan mới có phát hiện đầu tiên gây tiếng vang ở lĩnh vực xúc tác bất đối xứng. Và phải 15 năm sau, công trình về hiệu ứng phi tuyến mới hoàn thành.
Ròng rã hơn 25 năm nghiên cứu, Kagan chẳng mấy khi rời phòng thí nghiệm. Trong chia sẻ năm 2005, nhân dịp nhận giải thưởng Bower của Viện Franklin, Henri Kagan hé lộ: “Có thời điểm tôi đã suýt bỏ cuộc, vì tiến độ không hề cải thiện. Chúng tôi quyết định tiếp tục bằng cách đổi chiến lược, và cuối cùng thì cũng có được một bước đột phá”.
Miệt mài trong phòng thí nghiệm
Henri Kagan tốt nghiệp Trường Hóa Paris năm 1954, bắt đầu làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS) cùng năm và rồi bảo vệ luận án tiến sĩ năm 1960. Sự bền bỉ trong theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học của ông đã mang tới ảnh hưởng rõ rệt đối với sự tiến bộ trong nghiên cứu, phát triển dược phẩm. Nghiên cứu đăng trên tạp chí Journal of Medicinal Chemistry chỉ ra: Thuốc phân tử nhỏ dạng đơn đối phân chiếm khoảng 56% số thuốc mới, trong khi tỷ lệ thuốc dạng hỗn hợp cân bằng hai hình ảnh đối xứng đã giảm từ 11% xuống còn 3,6%.
Theo bà Emmanuelle Schulz, Giám đốc nghiên cứu CNRS tại Viện Hóa học phân tử và vật liệu Orsay, Henri Kagan là nhà khoa học xuất chúng với khả năng sáng tạo khó tin. Ông đã có những phát hiện lớn và không chỉ trong lĩnh vực được trao giải Nobel lần này.
Còn với nhà nghiên cứu Stéphane Bellemin-Laponnaz, Kagan là một người cực kỳ khiêm nhường, đầy ắp ý tưởng, cuốn hút trong cách trình bày khái niệm và truyền đạt khoa học. Cho tới vài năm trước, nhà khoa học khi ấy đã 90 tuổi vẫn còn miệt mài trong phòng thí nghiệm để suy nghĩ và khái niệm hóa. Trên bàn làm việc của ông, suốt nhiều năm, luôn có hai vỏ ốc sên: Một con xoắn về bên phải, một con xoắn về bên trái.
Những ngày này, khi tin từ Stockholm về tới Orsay, bà Schulz kể lại trên tờ Le Monde rằng, gương mặt Henri Kagan như bừng sáng. Đã 55 năm kể từ phát hiện đầu tiên gây tiếng vang, tròn 25 năm sau lần đầu bị gạch tên khỏi Nobel, hai vỏ ốc sên trên bàn ông vẫn nằm đó. Mỗi con vẫn xoắn về một phía, như chúng vẫn luôn như vậy, từ trước khi ông nhận được bất kỳ giải thưởng nào.
Thị trường hóa chất bất đối xứng toàn cầu, phục vụ dược phẩm, hóa chất nông nghiệp và hương liệu, hiện có quy mô hàng chục tỷ USD mỗi năm. Đó cũng là lý do công trình do Henri Kagan phát hiện đã trở thành một phần thiết yếu trong quy trình của mọi doanh nghiệp dược phẩm hiện hành.
Quỳnh Anh