Giáo sư, Nhà giáo ưu tú Nguyễn Lộc, nhà nghiên cứu văn học cổ điển Việt Nam, nguyên Hiệu trưởng đầu tiên Đại học Văn Hiến, qua đời lúc 13h hôm 25/10 tại nhà riêng ở phường Thông Tây Hội (TP HCM), ở tuổi 90.
Ông được nhiều thế hệ sinh viên và những người nghiên cứu văn học Việt Nam biết đến qua những công trình về văn học trung đại, Nguyễn Du, Truyện Kiều và thơ Hồ Xuân Hương. Những bộ giáo trình văn học Việt Nam trung đại mà ông tham gia biên soạn đã đồng hành biết bao thế hệ sinh viên khoa Văn. Trang viết của ông không chỉ cung cấp tri thức mà còn khơi dậy tình yêu đối với những tác giả, tác phẩm lớn của văn chương dân tộc.
Nhưng trong ký ức của riêng tôi, bên cạnh tầm vóc của một học giả uyên bác, giáo sư Nguyễn Lộc còn là người thầy mang tinh thần khai phóng và tấm lòng liên tài hiếm có. Thầy dám tin tưởng và trao cơ hội cho người trẻ ngay cả khi họ chưa sở hữu học hàm, học vị - những danh xưng thường được xem là tấm vé thông hành học thuật.
Tôi muốn kể về thầy Nguyễn Lộc từ chính những điều bản thân đã trải qua. Bởi tôi nghĩ có những công lao của một người thầy không chỉ được ghi lại trong sách vở mà còn hiện diện trong cuộc đời của những người được thầy mở đường.
Giáo sư Nguyễn Lộc lúc sinh thời. Ảnh: Gia đình cung cấp
Vào những năm 1980, tôi là giáo viên dạy văn tại Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai (TP HCM). Bên cạnh công tác giảng dạy ở bậc phổ thông, tôi dành nhiều thời gian nghiên cứu văn học thế giới và công bố các bài viết trên báo chí, tạp chí chuyên ngành. Sau này, tôi mới biết thầy đã đọc và chú ý đến những bài viết ấy. Thầy hỏi những người quen xem Nhật Chiêu là ai, đang làm việc ở đâu. Khi biết tôi đang đi dạy, thầy tìm cách liên hệ, rồi giới thiệu tôi tham gia Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học, nơi có những học giả lớn như giáo sư Hoàng Như Mai và thầy Nguyễn Lộc giữ vai trò dẫn dắt.
Sau đó, khi hai thầy chủ biên bộ sách giáo khoa mới, tôi được mời phụ trách mảng văn học nước ngoài. Bước ngoặt đến khi thầy Nguyễn Lộc đặt vấn đề mời tôi về khoa Ngữ văn (Đại học Tổng hợp TP HCM, nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM) để xây dựng và trực tiếp giảng dạy các bộ môn văn học thế giới - lĩnh vực còn hoang sơ ở bối cảnh văn học trong nước lúc bấy giờ.
Một giáo viên cấp ba ở miền Nam sau năm 1975, chưa từng kinh qua các bậc đào tạo sau đại học, làm sao dám nghĩ đến chuyện bước thẳng vào giảng đường đại học, biên soạn giáo trình mới toanh và được Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành? Thường thì một nhà xuất bản hàn lâm phải thẩm định dựa trên danh vị của các giáo sư, tiến sĩ đầu ngành, vậy mà thầy Nguyễn Lộc đã dám bảo lãnh và đặt cược vào năng lực thực chất của một người trẻ tay ngang.
Nhờ quyết định ấy, sinh viên lần đầu tiên được tiếp cận bài bản với văn học Nhật Bản, văn học Ấn Độ, văn học Trung Cận Đông và các trào lưu Đông - Tây. Khi tôi viết bản thảo Thơ ca Nhật Bản, thầy là người động viên, viết lời giới thiệu gửi Nhà xuất bản Giáo dục (công trình sau này tôi mở rộng thành Ba nghìn thế giới thơm). Thầy Lộc có thể chọn giải pháp an toàn như nhiều nhà quản lý, tiếp tục duy trì những môn học quen thuộc, chỉ sử dụng người đủ chuẩn bằng cấp, nhưng thầy chọn khai mở và sẵn sàng chịu trách nhiệm cho lựa chọn của mình.
Tôi học được ở thầy bài học sâu sắc: Người có tài chưa chắc đã biết quý tài năng của kẻ khác, người có học vị chưa chắc đã sẵn lòng nhường lối cho thế hệ kế thừa. Khi có đồng nghiệp trẻ vững vàng, tôi chủ động chuyển giao học phần, trao mảng văn học Ấn Độ cho cô Phan Thu Hiền, trao các chuyên đề khác cho Ngô Trà Mi, Nguyễn Ngọc Bảo Trâm hay Đào Lê Na. Lòng liên tài, một khi được gieo từ nhân cách lớn, sẽ tự khắc tạo thành truyền thống tiếp nối của cả một khoa văn.
Thầy nghiên cứu nghiêm cẩn, song tâm hồn lại mang đậm chất thơ, có lẽ phần nào đồng điệu với người bạn đời của thầy, nhà thơ Ý Nhi. Trong ký ức của tôi, câu nói đùa mà ấm áp nhất thầy dành cho mình là cái lắc đầu cười: "Chiêu, nghệ sĩ quá!"
Bản tính tôi thiên về sáng tác. Lên bục giảng, say mê trước cái đẹp của thơ Haiku hay cổ thi phương Đông, có tiết tôi cao hứng đọc liền tù tì chục bài thơ. Thầy nhìn ra ngay thiên hướng ấy. Bằng phong thái điềm đạm đặc trưng của người Bắc Hà, khi cần uốn nắn, thầy bỏ đại từ "anh", chỉ gọi thân mật: "Chiêu!". Thầy nhắc tôi tiết chế cảm xúc tài tử, buộc tôi phải đào sâu vào ngữ cảnh lịch sử, thi pháp và hệ thống lý luận học thuật. Lời nhắc nhở không mang tính phủ nhận, giúp một cộng sự trẻ biết cân bằng giữa cảm hứng nghệ sĩ và sự chuẩn mực của khoa học nhân văn.
Tôi cũng không thể quên những cuộc đối thoại học thuật tầm vóc mà mình may mắn được dự thính, điển hình là buổi trao đổi tại Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học, khi nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo đặt vấn đề với thầy Lộc: Sự khác biệt bản chất giữa việc đọc Truyện Kiều bằng văn bản chữ Nôm nguyên tác so với bản phiên âm Quốc ngữ.
Điều khiến tôi vô cùng thích thú là cuộc đối thoại giữa hai học giả lớn. Một bên là Cao Xuân Hạo, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng; một bên là Nguyễn Lộc, người nghiên cứu sâu về Truyện Kiều. Chỉ từ một câu hỏi về cách đọc văn bản, hai người đã mở ra một vấn đề rất đáng suy nghĩ về ngôn ngữ, văn bản và sự tiếp nhận văn chương. Tôi ngồi nghe mà thấy thú vị vô cùng.
Văn chương là như thế. Một chữ cũng có thể mở ra nhiều câu hỏi. Một tác phẩm đã được đọc hàng trăm năm vẫn còn những điều khiến chúng ta phải suy nghĩ, phải trở lại với văn bản, phải đối thoại với nhau. Tôi cũng nhớ cách thầy Nguyễn Lộc giảng Truyện Kiều. Thầy rất say sưa. Tình yêu của thầy đối với Nguyễn Du không chỉ thể hiện trong những công trình nghiên cứu mà còn trong giọng nói, trong cách thầy dẫn dắt người nghe đi vào tác phẩm.
Thầy có một sức truyền cảm rất lớn. Tôi nghĩ nhiều thế hệ sinh viên đã yêu Truyện Kiều, yêu thơ Hồ Xuân Hương, yêu văn học trung đại Việt Nam từ chính những giờ giảng như thế.
Giáo sư Nguyễn Lộc và vợ, nhà thơ Ý Nhi. Ảnh: Gia đình cung cấp
Rời công việc quản lý, thầy Nguyễn Lộc sống khiêm nhường, lặng lẽ trong một con hẻm nhiều cây xanh ở quận Gò Vấp cũ, TP HCM. Mỗi lần ghé thăm thầy đàm đạo sách vở, tôi luôn cảm nhận được nếp sống thanh bạch, tự tại của một bậc thức giả không màng danh lợi.
Thầy thuộc về "thế hệ vàng" của giới nghiên cứu văn học nước nhà, những cây đại thụ đi qua biến động lịch sử bằng nhân cách học thuật. Khi những người như thầy lần lượt tạ thế, khoảng trống bỏ lại cho học giới là điều không dễ bù đắp.
Những ngày này, sức khỏe tôi giảm sút sau ca can thiệp tim mạch, chưa thể tự tay chấp bút viết một bài tưởng niệm trọn vẹn. Tin thầy ra đi khiến lòng tôi nặng trĩu những lớp ký ức cũ. Xin mượn lời kể lại cho học trò Đào Lê Na ghi chép, và xin kính cẩn dâng lên người thầy khai phóng mấy dòng viếng biệt:
Đầu xanh đầu bạc về đây
Đưa người ra tận cõi ngoài trăm năm
Tạ ơn lòng đã tri âm
Mắt xanh như lộc đời trầm như cây
Nắng mưa từ biệt từ nay
Nhớ người còn những ngày mai nhớ người
Tạ ơn lòng đã trùng khơi.
(Từ biệt ở Thông Tây Hội - Thơ viếng Thầy Nguyễn Lộc)
Nhà văn Nhật Chiêu