Hồn cốt của Thăng Long - Hà Nội
Nhìn vào Hồ Gươm hiện nay, vẫn thấy khá rõ hai lớp quy hoạch chồng lên nhau: Lớp cảnh quan truyền thống của Hà Nội và lớp đô thị thuộc địa do người Pháp tổ chức từ cuối thế kỷ XIX. Các công trình kiến trúc quanh hồ vẫn hiện hữu, là chứng nhân của tầng lớp lịch sử ấy, như: Đền Bà Kiệu, đình Nam Hương, đền Ngọc Sơn, tháp Bút-đài Nghiên, tháp Rùa…
Từ khoảng 1884-1886, chính quyền Pháp bắt đầu chọn khu vực Hồ Gươm làm một trong những hạt nhân để quy hoạch Hà Nội theo mô hình đô thị châu Âu. Quyết định ngày 22/8/1886 và quyết định ngày 3/11/1886 của Phó Công sứ Hà Nội đã cho phép làm một con đường rộng khoảng 10m chạy quanh hồ và hạn chế xây dựng nhà gianh dọc tuyến này và dành một dải đất rộng ít nhất 20m quanh hồ tạo không gian thoáng. Như vậy có thể nói, ý tưởng biến Hồ Gươm thành trung tâm cảnh quan đã có từ lúc đó với “đường bao quanh - khoảng không gian mở với mặt hồ làm trung tâm”. Từ đó dần hình thành mạng đường phố, nhà phố thấp tầng mà chúng ta vẫn nhận ra ngày nay, đó là: Phố Đinh Tiên Hoàng (Francis Garnier), phố Lê Thái Tổ (Beauchamps), phố Tràng Tiền-Hàng Khay-Tràng Thi (Paul Bert - des Incrusteurs). Các tuyến này cùng với vườn hoa, cây xanh tạo thành một vành đai đô thị bao quanh mặt nước Hồ Gươm và kết nối hồ với khu phố cổ ở phía bắc, khu phố Pháp và các công trình hành chính ở phía nam, đông nam. Phía đông và đông nam hồ được biến thành trung tâm hành chính với các công trình hành chính quan trọng, gồm: Tòa Đốc lý (Tòa Thị chính), Phủ Thống sứ Bắc Kỳ, Kho bạc Đông Dương, Nhà Bưu điện…
Cùng với thực hiện quy hoạch này, người Pháp đã đặt ra khá sớm những quy định mang tính quản lý không gian, đường phố và chiều cao công trình quanh Hồ Gươm, dù rằng đó chưa phải là một “quy chế bảo tồn kiến trúc Hồ Gươm” theo nghĩa hiện đại. Điểm đáng chú ý là ý tưởng kiểm soát dải không gian quanh hồ xuất hiện từ năm 1886, tức chỉ vài năm sau khi Pháp bắt đầu quy hoạch lại Hà Nội. Nó cho thấy người Pháp đã nhìn Hồ Gươm không đơn thuần là một mặt nước mà là một không gian cảnh quan cần có khoảng đệm, không để công trình xây dựng áp sát mép hồ. Đến 1891, chính quyền thuộc địa đã ban hành “Quy chế lục lộ Hà Nội”, quy định về quản lý đường phố Hà Nội, trong đó xác định chiều rộng lòng đường và vỉa hè cho những phố hiện hữu và những phố dự kiến mở. Các khu vực phía đông và phía nam Hồ Gươm có những tuyến được quy định vỉa hè tối thiểu khoảng 5m, thậm chí một số tuyến rộng hơn.
Một điểm đặc biệt đáng chú ý là chiều cao công trình quanh Hồ Gươm cũng được kiểm soát. Theo các tư liệu được dẫn lại, trong giai đoạn đầu thế kỷ 20, các công trình quanh hồ như Ngân hàng Đông Dương, bốt Hàng Trống, nhà hàng Godard... có chiều cao không quá 15m theo các quy định khi đó. Những công trình được xây dựng hoặc xây lại vào khoảng năm 1918 như Bưu điện Bờ Hồ và Phủ Thống sứ cũng phải tuân theo nguyên tắc này. Đến đề án quy hoạch được Toàn quyền Đông Dương thông qua năm 1942, giới hạn còn được kiểm soát chặt hơn: Nhà xây mới tối đa khoảng 12m, còn nhà ở khu phố buôn bán cũ khoảng 8,5m.
Và khá thú vị, khi hiện nay đang có nhiều ý kiến tranh luận về chiều cao các công trình sẽ xây mới tại khu vực chung quanh Hồ Gươm, thì nguyên tắc kiểm soát “hình thái không gian nhìn từ mặt hồ” đã có lịch sử hơn một thế kỷ! Điều này cũng cho thấy, người Pháp không “bảo tồn nguyên trạng” Hồ Gươm mà họ tái thiết Hồ Gươm thành một không gian đô thị cảnh quan, đồng thời đặt ra những giới hạn nhất định về khoảng lùi, đường phố, vỉa hè, chiều cao và hình thái công trình. Đây chính là lý do cấu trúc “mặt nước - dải cây xanh - đường phố - công trình” quanh Hồ Gươm hình thành khá rõ từ thời Pháp.
Chính sự đan xen giữa biểu tượng lịch sử, truyền thống, văn hóa của Việt Nam và kiến trúc đô thị Pháp hiện đại đã làm cho Hồ Gươm đặc biệt. Đây là nơi lịch sử truyền thống và hiện đại, cái cũ và cái mới cùng tồn tại một cách hài hòa để tạo nên một không gian cảnh quan - lịch sử - di sản văn hóa Hồ Gươm vô cùng quý giá, độc đáo và đặc sắc của Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung mà hiếm một thành phố nào trên thế giới có được.
Hãy giữ cảnh quan lịch sử - văn hóa khu vực Hồ Gươm
Vừa qua, Hà Nội đã lấy ý kiến dân cư về phương án Điều chỉnh cục bộ Quy hoạch phân khu đô thị H1-1B (khu vực Hồ Gươm và phụ cận), tỷ lệ 1/2.000 và một phần Quy hoạch phân khu đô thị H1-1C, tỷ lệ 1/2.000 kết hợp giải pháp Quy hoạch chi tiết, tỷ lệ 1/500 cải tạo, chỉnh trang, tái thiết, tái cấu trúc không gian khu vực hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận với phạm vi nghiên cứu lên tới
65,89 ha, không chỉ riêng mặt hồ.
Tôi cứ băn khoăn, nếu chỉ gọi đây là dự án chỉnh trang, cải tạo Hồ Gươm thì chưa phản ánh hết quy mô thật sự của dự án. Và vì thế, cần đặt ra những câu hỏi cần được trả lời:
- Thứ nhất, giá trị nào của Hồ Gươm là bất khả xâm phạm?
- Thứ hai, những gì hiện có đã thật sự xuống cấp và cần cải tạo?
- Thứ ba, cái gì cần phục hồi, cái gì cần loại bỏ và cái gì được phép xây mới?
- Thứ tư, mức độ can thiệp tối đa vào cảnh quan lịch sử khu vực Hồ Gươm là bao nhiêu? Có làm tăng giá trị của Hồ Gươm hay không?
- Thứ năm, nghiên cứu của dự án có vi phạm Luật Di sản văn hóa và các văn bản hướng dẫn liên quan đến việc bảo vệ khu vực di tích cấp quốc gia đặc biệt Hồ Gươm không?; Có vi phạm Quy chế Quản lý Kiến trúc và Quyết định số 73/2024/QĐ-UBND của UBND Thành phố Hà Nội (ban hành cuối năm 2024, có hiệu lực từ tháng 1/2025) ban hành Quy chế quản lý kiến trúc Thành phố Hà Nội, trong đó có quy định kiểm soát đặc thù đối với khu vực Hồ Gươm không?;
- Thứ sáu, có cần lập Bản đồ giá trị di sản Hồ Gươm không? Bản đồ này sẽ cho thấy các lớp giá trị sau:
+ Giá trị lịch sử;
+ Giá trị kiến trúc;
+ Giá trị cảnh quan;
+ Giá trị của hệ sinh thái cây xanh-mặt nước-thủy văn;
+ Giá trị của ký ức cộng đồng;
+ Giá trị tầm nhìn và các trục thị giác.
- Và cuối cùng, 50-100 năm nữa thế hệ mai sau có còn được nhìn thấy Hồ Gươm như một di sản vô giá được ông cha truyền lại, hay chỉ là một công trình cảnh quan hiện đại được thiết kế lại từ năm 2026?
Đây cũng là câu hỏi rất cốt lõi!
Dự án đề cập rất nhiều đến quảng trường, công trình biểu tượng, không gian ngầm, TOD, thương mại-dịch vụ, nhưng liệu các giải pháp đưa ra có thật sự phù hợp với sức chịu tải của di sản Hồ Gươm, với cảnh quan cây xanh, mặt nước, vi khí hậu; địa chất, giao thông, ký ức cộng đồng và không gian sinh hoạt đô thị Hà Nội. Với phạm vi nghiên cứu lên tới
65,89 ha, thật sự là một quy mô lớn, phản ánh thực chất của bài toán tái cấu trúc trung tâm lịch sử Hà Nội, chứ không còn là dự án cải tạo, chỉnh trang cảnh quan đơn thuần.
Nếu Hồ Gươm chuyển thành một quảng trường thì nguy cơ các yếu tố tự nhiên và ký ức bị đặt sau nhu cầu tổ chức sự kiện, lễ hội tập trung đông người. Trong khi giá trị đặc biệt của Hồ Gươm chính là sự cân bằng giữa khoảng trống đô thị và thiên nhiên, chứ không phải một quảng trường hiện đại lát đá khổng lồ với các công nghệ âm thanh, chiếu sáng hiện đại. Với việc đề xuất các công trình biểu tượng có chiều cao và khối tích lớn lên tới 36m hay hơn nữa tại khu vực Hồ Gươm, cần nhớ rằng, Hồ Gươm đã có một hệ biểu tượng lịch sử rất mạnh và ấn tượng, đó là tháp Rùa-đền Ngọc Sơn-cầu Thê Húc-tháp Bút, đài Nghiên-mặt nước Hồ xanh màu lục thủy và hệ thống cây xanh, kiến trúc cảnh quan rất hài hòa. Tất cả đã tạo nên một hệ biểu tượng, một di sản cảnh quan-lịch sử-văn hóa Hồ Gươm trong lòng Hà Nội mà không cần bất cứ công trình biểu tượng nào xen cấy vào đó.
Để kết thúc bài viết này, tôi xin dẫn lời phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khi nói về định hướng phương án tổ chức lại không gian khu vực Hồ Gươm tại buổi cùng đoàn Đại biểu Quốc hội TP Hà Nội tiếp xúc cử tri của 10 phường trên địa bàn thành phố ngày 27/9/2026. “Giá trị lịch sử của không gian này được tạo qua nhiều thế hệ. Một công trình mới chỉ nên được lựa chọn khi thật sự làm cho cảnh quan và đời sống công cộng tốt hơn, được giới chuyên môn đánh giá, thuyết phục và được người dân đồng tình trên cơ sở hiểu biết đầy đủ các phương án”. Đây chính là điều để chúng ta suy ngẫm.
KTS Phạm Thanh Tùng