Rác thải dệt may là một vấn đề toàn cầu - Ảnh: Unsplash
Khi rời tủ đồ, quần áo cũ có thể vẫn còn một công dụng cuối cùng, không phải dưới dạng đồ cũ có thể tái sử dụng hay sợi tái chế mà là phân hữu cơ.
Mở hy vọng về xử lý rác thải dệt may
Trong khi phần lớn các cuộc thảo luận về thời trang bền vững tập trung vào tái chế và tái sử dụng, các nhà nghiên cứu từ Đại học RMIT đang tìm hiểu một lựa chọn khác cho đoạn cuối vòng đời của những trang phục đã qua sử dụng: biến chúng thành đất trồng giàu dinh dưỡng thông qua quá trình ủ compost.
Nghiên cứu của nhóm được tài trợ bởi Cotton Research and Development Corporation (Úc) và công bố trên tạp chí khoa học Results in Engineering, hướng tới giải quyết vấn đề ngày càng lớn trên toàn cầu khi hơn 80% rác thải dệt may trên thế giới bị chôn lấp hoặc đốt bỏ.
Đối với Việt Nam, thách thức này càng đặc biệt nghiêm trọng. Là một trong những trung tâm sản xuất dệt may lớn của thế giới, Việt Nam hiện tạo ra lượng rác thải dệt may rất lớn nhưng vẫn thiếu cơ sở hạ tầng tái chế quy mô lớn.
Theo Giáo sư Rajkishore Nayak, trưởng nhóm nghiên cứu và giáo sư ngành Quản trị kinh doanh thời trang (Đại học RMIT Việt Nam), việc ủ compost rác thải dệt may mở ra hướng đi mới cho thời trang tuần hoàn.
"Ủ compost rác thải dệt may là quá trình phân hủy các loại vải và quần áo được làm từ sợi tự nhiên thành đất hữu cơ giàu dinh dưỡng thông qua tác động của vi sinh vật", ông giải thích.
Và ông bổ sung: "Quá trình này giúp giảm lượng quần áo cũ bị đưa vào bãi chôn lấp, đồng thời tận dụng tài nguyên, giảm phát thải khí nhà kính và biến rác thải thành những sản phẩm có thể tái sử dụng".
Ủ phân trùn quế các sản phẩm dệt may sẽ cho phân compost chất lượng tốt hơn và ít mùi hơn - Ảnh: Pexels
Lợi thế từ phương pháp ủ phân trùn quế
Ủ compost rác thải dệt may không phải là một khái niệm hoàn toàn mới. Điều mà nghiên cứu của RMIT muốn tìm hiểu là phương pháp ủ compost nào mang lại hiệu quả tốt nhất.
Nhóm nghiên cứu nhận thấy ủ phân trùn quế - phương pháp sử dụng giun đất để tiêu hóa và phân hủy vật liệu hữu cơ - có nhiều ưu điểm so với các phương pháp ủ phân hữu cơ truyền thống.
"So với phương pháp ủ compost hiếu khí thông thường, ủ phần trùn quế cần ít không gian và năng lượng hơn, cho kết quả nhanh và hiệu quả hơn, cũng như có tiềm năng mở ra cơ hội kinh tế mới cho khu vực nông thôn.
Ủ phân trùn quế được khuyến nghị vì khá đơn giản và có chi phí thấp. Phương pháp này cũng tạo ra phân compost chất lượng tốt hơn và ít mùi hơn", giáo sư Nayak cho biết.
Nghiên cứu cho thấy có thể dùng phương pháp ủ compost để bổ trợ thay vì cạnh tranh với tái chế. Trong khi tái chế hướng tới việc biến vải cũ thành vật liệu mới, ủ compost có thể là đích đến phù hợp cho các sản phẩm từ sợi tự nhiên không còn thích hợp để tái sử dụng, sửa chữa, tái chế hoặc nâng cấp thành sản phẩm mới.
Rào cản vật liệu và cơ hội tại Việt Nam
Theo Giáo sư Nayak, sản phẩm dệt may có thể được ủ compost hiệu quả phải được làm hoàn toàn từ sợi tự nhiên có nguồn gốc từ thực vật hoặc động vật. Ngược lại, các sản phẩm từ sợi tổng hợp hoặc vải pha gặp nhiều trở ngại vì cấu trúc chuỗi polymer của các loại vải này rất khó phá vỡ.
Ví dụ các chất liệu như cotton, len và lụa thường phân hủy sinh học khá tốt. Trong khi đó, polyester, ni lông và các loại sợi tổng hợp khác có khả năng chống phân hủy cao và có thể tồn tại trong môi trường nhiều năm.
Ngay cả những sản phẩm chủ yếu làm từ sợi tự nhiên cũng có thể chứa thuốc nhuộm, hóa chất hoàn tất, chất chống cháy, lớp xử lý chống nhăn, cúc áo, khóa kéo hoặc các thành phần khác khiến quá trình ủ compost trở nên phức tạp hơn.
Do đó, để mở rộng quy mô ủ compost hàng dệt may thì thu gom quần áo cũ và đưa đến cơ sở xử lý thôi là chưa đủ.
Giáo sư Rajkishore Nayak - Ảnh: RMIT
Giáo sư Nayak cho rằng một trong những cơ hội lớn nhất của Việt Nam nằm ở lĩnh vực sản xuất may mặc. Trong quá trình sản xuất, các nhà máy tạo ra khối lượng lớn rác thải dệt may tương đối sạch, dễ nhận diện, phân loại và xử lý hơn so với quần áo thải bỏ từ hộ gia đình.
Để việc ủ compost khả thi ở quy mô lớn, ông cho rằng Việt Nam cần đầu tư vào hạ tầng ủ compost, hệ thống thu gom và phân loại tốt hơn, nâng cao nhận thức cộng đồng, đồng thời áp dụng các cách tiếp cận nhất quán hơn trong thiết kế sản phẩm nhằm tính đến tác động ở cuối vòng đời sản phẩm.
"Trong vòng 5-10 năm tới, nếu có thể xây dựng một hệ sinh thái ủ compost dệt may tại Việt Nam thì đó không nên chỉ là một dự án đơn lẻ, mà phải trở thành một phần không thể tách rời của hệ thống thời trang tuần hoàn quốc gia", ông nói.
Một chạm, vạn biến là chuỗi bài viết mang đến góc nhìn của chuyên gia RMIT về những vấn đề, xu hướng và thách thức đang định hình tương lai.
Dựa trên nghiên cứu đã được công bố từ Đại học RMIT, loạt bài kết nối tri thức học thuật với những câu chuyện thời sự, giúp độc giả hiểu sâu hơn về những biến chuyển trong kinh tế, công nghệ, môi trường và xã hội, đồng thời gợi mở các giải pháp và cơ hội cho tương lai.
111 suất học bổng năm nay thuộc 20 hạng mục khác nhau, trong đó có sáu Học bổng Chắp cánh ước mơ toàn phần được triển khai cùng các tổ chức cộng đồng.