Bỏ qua điều hướng

Gỡ điểm nghẽn để hàng Việt tiến sâu vào thị trường Halal

Gỡ điểm nghẽn để hàng Việt tiến sâu vào thị trường Halal
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Thị trường Halal toàn cầu với khoảng 2 tỷ người Hồi giáo tại 112 quốc gia đang mở ra dư địa lớn cho hàng hóa Việt Nam. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu Halal của Việt Nam hiện mới đạt khoảng 900 triệu USD/năm, chủ yếu là nông, thủy sản thô. Indonesia hướng tới quan hệ Đối tác chiến lược về Halal với t...

Việc tháo gỡ những điểm nghẽn về tiêu chuẩn, logistics và thông tin thị trường được xác định là yêu cầu quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam khai thác tốt hơn thị trường này.

Cần cơ chế phối hợp thúc đẩy xuất khẩu

Tại hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài tổ chức ngày 23/9, do Cục trưởng Xúc tiến thương mại Vũ Bá Phú chủ trì, đại diện các Bộ, ngành, địa phương, hiệp hội ngành hàng cùng hệ thống Thương vụ Việt Nam tại các địa bàn Halal trọng điểm đã tập trung thảo luận về năng lực cung ứng, nhu cầu thị trường và cơ chế phối hợp thúc đẩy xuất khẩu Halal.

Theo thông tin tại hội nghị, thế giới hiện có khoảng 2 tỷ người Hồi giáo tại 112 quốc gia; 57 quốc gia thành viên Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC) chiếm khoảng 25% dân số toàn cầu. Quy mô ngành thực phẩm Halal đạt khoảng 2.300 tỷ USD năm 2022 và được dự báo có thể đạt 4.000-10.000 tỷ USD trong giai đoạn 2030-2032. Tiêu chuẩn Halal hiện không chỉ giới hạn trong lĩnh vực thực phẩm mà còn mở rộng sang mỹ phẩm, du lịch, tài chính và logistics.

Trong khi đó, Việt Nam có nhiều lợi thế để tham gia thị trường này. Việt Nam nằm trong nhóm 10 quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới; hơn 80% nông sản thuần thực vật được đánh giá đáp ứng bản chất Halal tự nhiên. Tuy nhiên, số doanh nghiệp có chứng nhận Halal còn rất khiêm tốn, khoảng 0,2%, tương đương 1.000-1.300 doanh nghiệp.

Theo ông Vũ Bá Phú, một trong những trở ngại lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam là sự phân mảnh về tiêu chuẩn và chứng nhận. Các thị trường như GCC, Indonesia, Malaysia, Morocco và Saudi Arabia có những yêu cầu riêng, trong khi chi phí cấp và duy trì chứng nhận hằng năm còn lớn. Bên cạnh đó, chuỗi cung ứng Halal chưa được tổ chức đồng bộ, Việt Nam còn thiếu hệ thống kho bãi, vận chuyển chuyên biệt; nguồn cung nguyên liệu, phụ gia đạt chuẩn Halal phục vụ chế biến sâu cũng còn hạn chế.

ndo_br_screenshot-2026-09-23.png
Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài.

“Khoảng cách thông tin và năng lực tiếp cận thị trường cũng là điểm nghẽn đáng chú ý. Doanh nghiệp thiếu dữ liệu thực tế về thị trường, chi phí xúc tiến cao và còn tâm lý coi chứng nhận Halal như một thủ tục hoặc logo ngắn hạn, thay vì xem đây là yêu cầu gắn với việc cải tổ toàn bộ quy trình sản xuất”, ông Vũ Bá Phú nhấn mạnh.

Thay đổi cách nhìn về chứng nhận Halal

Ông Lê Anh Ngọc, Trưởng phòng Chất lượng và đánh giá sự phù hợp (Cục Chất lượng, chế biến và phát triển thị trường - Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, Việt Nam có lợi thế về vị trí địa lý khi nằm gần các khu vực tiêu thụ Halal lớn ở châu Á và Đông Nam Á, đồng thời có năng lực xuất khẩu nông, lâm, thủy sản thuộc nhóm hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần thay đổi cách nhìn về chứng nhận Halal, chủ động hơn về nguyên liệu, phụ gia và thích ứng với sự khác biệt về tiêu chuẩn giữa các thị trường.

Thực tế tại các thị trường trọng điểm cho thấy yêu cầu đối với hàng hóa Halal ngày càng cụ thể. Tại Indonesia, ông Phạm Thế Cường - Tham tán Thương mại Việt Nam tại Indonesia cho biết, thị trường F&B Halal có quy mô khoảng 155 tỷ USD. Quyết định số 4/2026 của Cơ quan BPJPH yêu cầu kiểm tra chứng từ và thực tế hàng hóa ngay tại nước xuất khẩu trước khi bốc hàng lên tàu. Doanh nghiệp Việt Nam được khuyến nghị chủ động kiểm tra nhãn mác, bảng thành phần, khả năng truy xuất nguồn gốc và đăng ký chứng nhận Halal Indonesia trước khi tiếp cận đối tác.

Tương tự, tại Malaysia, thị trường F&B Halal đạt khoảng 50 tỷ USD/năm. Thương vụ Việt Nam tại Malaysia khuyến nghị doanh nghiệp không chỉ xuất khẩu trực tiếp mà có thể liên kết, hợp tác sản xuất với doanh nghiệp Malaysia để thuận lợi hơn trong chứng nhận, đồng thời sử dụng Malaysia như một cửa ngõ tái xuất sang nước thứ ba.

Trong khi đó, UAE được xác định là cửa ngõ tái xuất quan trọng vào khối GCC và Bắc Phi; Morocco có nhu cầu đối với gia vị, thực phẩm chế biến tiện lợi, trái cây sấy khô và mỹ phẩm thiên nhiên Halal. Saudi Arabia cũng là thị trường có nhu cầu nhập khẩu thực phẩm Halal lớn.

Trên cơ sở đó, hội nghị định hướng hệ thống Thương vụ và cơ quan quản lý chuyển từ cung cấp thông tin chung sang cung cấp dữ liệu thị trường có thể hành động được, như danh mục nhà nhập khẩu uy tín, cảnh báo sớm về rào cản kỹ thuật; đồng thời đẩy nhanh đàm phán các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về chứng nhận Halal. Đối với doanh nghiệp, yêu cầu đặt ra là xây dựng chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu được chuẩn hóa đến công nghệ chế biến sâu, duy trì ổn định chất lượng sản phẩm và coi chứng nhận Halal là “giấy thông hành chiến lược” lâu dài.

Các ý kiến cũng đề xuất đẩy mạnh mô hình gian hàng Halal dùng chung, như Vietnam Halal Pavilion, tại các hội chợ quốc tế lớn. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội chợ Hàng Việt Nam tiêu biểu xuất khẩu năm 2026 dự kiến dành khoảng 20% số gian hàng, tương đương khoảng 150 gian, cho sản phẩm Halal và bố trí khu vực Halal riêng biệt. Những giải pháp này hướng tới mục tiêu đưa hàng hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị Halal toàn cầu, thay vì chỉ dừng ở xuất khẩu sản phẩm thô. Để hiện thực hóa tiềm năng, cùng với sự hỗ trợ của cơ quan quản lý và hệ thống Thương vụ, doanh nghiệp cần nâng cao năng lực chuẩn hóa sản xuất, kiểm soát chất lượng và chủ động thích ứng với yêu cầu riêng của từng thị trường.

KIM DUNG

Thị trường Halal toàn cầu mở ra dư địa tăng trưởng to lớn cho xuất khẩu Việt Nam với quy mô đạt khoảng 2.300 tỷ USD vào năm 2022 và dự báo tăng lên mức 4.000 đến 10.000 tỷ USD trong giai đoạn 2030-2032. Mặc dù sở hữu lợi thế của một quốc gia thuộc nhóm 10 nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới với hơn 80% sản phẩm thuần thực vật đáp ứng bản chất Halal tự nhiên, kim ngạch xuất khẩu Halal của Việt Nam hiện mới dừng ở mức 900 triệu USD mỗi năm. Đáng chú ý, tỷ lệ doanh nghiệp đạt chứng nhận Halal tại Việt Nam còn rất khiêm tốn khi chỉ chiếm khoảng 0,2%, tương đương 1.000 đến 1.300 doanh nghiệp. Theo Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại Vũ Bá Phú, trở ngại lớn nhất hiện nay xuất phát từ sự phân mảnh tiêu chuẩn và chi phí cấp, duy trì chứng nhận hằng năm còn lớn giữa các thị trường trọng điểm. Bên cạnh đó, hệ thống chuỗi cung ứng Halal trong nước chưa được tổ chức đồng bộ do thiếu hạ tầng kho bãi, vận chuyển chuyên biệt cũng như nguồn cung nguyên liệu chế biến sâu. Khoảng cách thông tin cùng tâm lý coi chứng nhận Halal là thủ tục ngắn hạn thay vì cải tổ toàn bộ quy trình sản xuất đang cản trở năng lực tiếp cận thị trường của doanh nghiệp. Đồng tình với nhận định trên, ông Lê Anh Ngọc từ Cục Chất lượng, chế biến và phát triển thị trường cho rằng doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động thay đổi cách nhìn và thích ứng tốt hơn với quy chuẩn của từng thị trường. Việc tháo gỡ điểm nghẽn về logistics, thông tin và tiêu chuẩn được xác định là chìa khóa chiến lược để nông, thủy sản Việt Nam xâm nhập sâu hơn vào cộng đồng 2 tỷ người Hồi giáo tại 112 quốc gia. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành và hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài sẽ tạo nền tảng vững chắc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.