Bỏ qua điều hướng

Hà Nội khẳng định vai trò hạt nhân, cực tăng trưởng của Vùng Thủ đô

Hà Nội khẳng định vai trò hạt nhân, cực tăng trưởng của Vùng Thủ đô
Nguồn ảnh: VietnamPlus (TTXVN)

Nghị quyết 27-NQ/TW cùng với Luật Thủ đô năm 2026 và Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm đang tạo cơ sở để Hà Nội tổ chức lại không gian phát triển theo hướng liên kết, đồng bộ. Hà Nội cụ thể hóa nhiều chính sách đặc thù của Luật Thủ đô 2026 Đưa Luật Thủ đô 2026 vào cuộc sống: Động lực...

Hà Nội đang đứng trước yêu cầu chuyển từ tư duy phát triển trong ranh giới hành chính sang phát triển theo không gian vùng.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới xác định vùng đô thị Hà Nội là một trong hai cực tăng trưởng lớn nhất của đất nước, đồng thời đặt ra yêu cầu tăng cường liên kết hạ tầng, kinh tế, khoa học-công nghệ và nguồn lực giữa Thủ đô với các địa phương.

Không gian phát triển vùng mới

Một trong những điểm đáng chú ý của Nghị quyết 27-NQ/TW là cách tiếp cận mới về phát triển vùng, không chỉ dừng ở sự phối hợp giữa các địa phương mà hướng tới tổ chức lại không gian phát triển, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Trong cấu trúc đó, vùng đô thị Hà Nội cùng với vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là hai cực tăng trưởng lớn nhất của đất nước. Điều này đặt ra yêu cầu Hà Nội không chỉ nâng cao năng lực phát triển nội tại mà còn phải phát huy vai trò trung tâm kết nối, tạo sức lan tỏa tới các địa phương trong vùng.

Định hướng này cũng được cụ thể hóa trong Luật Thủ đô năm 2026. Điều 28 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 xác định Hà Nội là hạt nhân, trung tâm kết nối, động lực thúc đẩy liên kết, phát triển; là cực tăng trưởng của vùng Thủ đô, vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng Trung du và miền núi phía Bắc và của cả nước.

Cùng với đó, Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, được phê duyệt tại Quyết định số 2512/QĐ-UBND ngày 13/5/2026, đã mở rộng phạm vi nghiên cứu kết nối với Vùng Thủ đô gồm Hà Nội và 5 tỉnh: Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình; đồng thời nghiên cứu mối liên hệ với các vùng kinh tế và hành lang kinh tế quốc gia, quốc tế.

Như vậy, Nghị quyết 27-NQ/TW xác lập tư duy tổ chức không gian phát triển ở tầm quốc gia, Luật Thủ đô tạo hành lang pháp lý cho liên kết vùng, còn quy hoạch của Hà Nội cụ thể hóa định hướng phát triển Thủ đô trong mối quan hệ với các địa phương xung quanh.

ttxvn-quy-hoach-tong-the-thu-do-ha-noi-2.jpg
Đông đảo người dân xem quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội bằng sa bàn, ứng dụng công nghệ trình chiếu 3D mapping. (Ảnh: Quốc Khánh/TTXVN)

Để hiện thực hóa những định hướng này, phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại và có tính liên vùng được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm.

Nghị quyết 27-NQ/TW đặt yêu cầu phát triển các hành lang kinh tế-đô thị, các trung tâm kinh tế và đô thị động lực có khả năng dẫn dắt, lan tỏa trong vùng và giữa các vùng, trong đó, ưu tiên phát triển hành lang kinh tế Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh; các tuyến đường kết nối Hà Nội với các địa phương, Vành đai 4, Vành đai 5 Vùng Thủ đô; nghiên cứu, phát triển các tuyến đường sắt kết nối Hà Nội với cảng biển, cửa khẩu quốc tế và hệ thống đường sắt đô thị.

Việc hoàn thiện mạng lưới giao thông liên vùng không chỉ góp phần giảm áp lực lên khu vực nội đô mà còn tạo điều kiện mở rộng thị trường, giảm chi phí logistics, thúc đẩy lưu thông hàng hóa và hình thành các không gian sản xuất, dịch vụ mới.

Bên cạnh hạ tầng giao thông, liên kết vùng còn đặt ra yêu cầu phối hợp trong phát triển công nghiệp, nông nghiệp, bảo vệ môi trường, quản lý nguồn nước, đào tạo nhân lực và cung ứng các dịch vụ thiết yếu. Đây là những lĩnh vực cần được tổ chức trên cơ sở lợi ích chung, thay vì giới hạn trong phạm vi từng địa phương.

Phát huy lợi thế khoa học, công nghệ và liên kết chuỗi giá trị

Không gian phát triển mới của Hà Nội không chỉ được mở rộng về địa lý mà còn được hình thành từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Với lợi thế về hệ thống trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và thị trường tiêu thụ lớn, Hà Nội có điều kiện phát huy vai trò trung tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho toàn vùng.

Tuy nhiên, để những lợi thế này tạo ra giá trị thực chất, cần tăng cường kết nối giữa hoạt động nghiên cứu, đào tạo với nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các địa phương. Các trung tâm nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ của Hà Nội có thể hợp tác với các cơ sở sản xuất, khu công nghiệp, vùng nguyên liệu và trung tâm logistics tại các tỉnh lân cận, qua đó hình thành những chuỗi giá trị liên vùng. Thực tế, yêu cầu này đã được đặt ra trong các hoạt động xúc tiến đầu tư giữa Hà Nội và các địa phương.

mot-goc-ha-noi.jpg
Một góc thành phố Hà Nội. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)

Phát biểu tại Hội nghị kết nối đầu tư với chủ đề “Tăng cường liên kết vùng trong phát triển nông nghiệp thông minh và kinh tế xanh: Hà Nội-Bắc Ninh-Hưng Yên,” tổ chức chiều 15/7/2026 tại Hà Nội, ông Lê Trung Hiếu, Phó Giám đốc Sở Tài chính Hà Nội cho rằng, việc kết nối thế mạnh về khoa học-công nghệ, tài chính và thị trường của Hà Nội với công nghiệp công nghệ cao, logistics của Bắc Ninh và nông nghiệp chất lượng cao, công nghiệp chế biến của Hưng Yên sẽ tạo điều kiện hình thành các chuỗi giá trị liên vùng.

Theo ông Lê Trung Hiếu, hoạt động xúc tiến đầu tư cần chuyển từ cách tiếp cận riêng lẻ sang xúc tiến cho cả không gian phát triển liên kết, tăng cường chia sẻ thông tin, kết nối doanh nghiệp, tìm kiếm đối tác và huy động nguồn lực đầu tư. Qua đó, các địa phương có thể phát huy lợi thế bổ trợ, nâng cao giá trị sản xuất và mở rộng cơ hội hợp tác trong phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Từ góc độ doanh nghiệp, ông Trần Văn Tám, Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Đầu tư Việt Thắng, có trụ sở tại xã Sóc Sơn, thành phố Hà Nội cho rằng, việc mở rộng không gian phát triển và tăng cường liên kết vùng sẽ tạo thêm cơ hội để các doanh nghiệp trên địa bàn Thủ đô mở rộng thị trường, tìm kiếm đối tác và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng hàng hóa giữa Hà Nội với các tỉnh, thành phố lân cận.

Theo ông Trần Văn Tám, để doanh nghiệp thực sự hưởng lợi từ các chính sách liên kết vùng, điều quan trọng là đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông kết nối, nhất là các tuyến đường vành đai, đường cao tốc và các trung tâm logistics. Đồng thời, cần tăng cường chia sẻ thông tin về quy hoạch, chính sách đầu tư, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh và lưu thông hàng hóa giữa các địa phương.

Doanh nghiệp mong muốn các địa phương có sự phối hợp đồng bộ trong phát triển hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính và tháo gỡ những khó khăn trong hoạt động đầu tư, kinh doanh. Khi kết nối vùng được triển khai thực chất, doanh nghiệp sẽ có điều kiện giảm chi phí vận chuyển, mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển kinh tế của Thủ đô cũng như các địa phương trong vùng.

Từ thực tiễn hoạt động sản xuất, kinh doanh, việc mở rộng không gian phát triển không chỉ tạo thêm cơ hội tiếp cận thị trường mà còn đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực thích ứng của doanh nghiệp. Trong đó, tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị và chủ động tham gia các mạng lưới hợp tác liên tỉnh là những yếu tố quan trọng để khai thác hiệu quả lợi thế của liên kết vùng.

Cách tiếp cận này cho thấy, liên kết vùng không đơn thuần là mở rộng thị trường tiêu thụ mà còn hướng tới tổ chức lại hoạt động nghiên cứu, sản xuất, chế biến, logistics và phân phối theo chuỗi giá trị chung.

Đối với Hà Nội, việc mở rộng không gian hợp tác cũng có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2026-2030, với tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân từ 11%/năm trở lên và tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt 40%.

Tạo cơ chế liên kết thực chất, thúc đẩy cùng phát triển

Để những định hướng của Nghị quyết 27-NQ/TW đi vào thực tiễn, vấn đề quan trọng là chuyển hóa tư duy liên kết vùng thành các chương trình, dự án và cơ chế phối hợp cụ thể.

Thực tế cho thấy nhiều vấn đề của Hà Nội như ùn tắc giao thông, ô nhiễm không khí, quản lý nguồn nước, xử lý chất thải, logistics và thị trường lao động không thể giải quyết hiệu quả nếu chỉ giới hạn trong địa giới hành chính của Thủ đô.

Luật Thủ đô năm 2026 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc tăng cường phối hợp, huy động nguồn lực thực hiện các dự án liên kết vùng. Theo Điều 29, các địa phương tham gia dự án liên kết có thể thống nhất lựa chọn một địa phương làm cơ quan chủ quản; đồng thời có thể sử dụng ngân sách để đầu tư trực tiếp vào dự án trên địa bàn địa phương khác nhằm giải quyết những vấn đề phục vụ lợi ích chung.

Luật cũng quy định thành lập Quỹ Phát triển vùng Thủ đô, ưu tiên nguồn lực cho các dự án hạ tầng giao thông, xử lý ô nhiễm môi trường và những nhiệm vụ có tính chất vùng.

Những cơ chế này tạo điều kiện để các địa phương chủ động phối hợp, cùng huy động nguồn lực và chia sẻ trách nhiệm trong triển khai các công trình, dự án liên tỉnh.

Từ góc độ phát triển kinh tế vùng, ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội cho rằng Hà Nội cần chuyển từ tư duy phát triển trong phạm vi địa giới hành chính sang phát triển để dẫn dắt và cùng phát triển với cả vùng. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, cần xây dựng cơ chế điều phối vùng thực chất, nhất là trong các lĩnh vực giao thông, môi trường, logistics và thị trường lao động.

Theo ông Mạc Quốc Anh, doanh nghiệp phải trở thành chủ thể quan trọng của liên kết vùng thông qua việc hình thành các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và mạng lưới hợp tác liên tỉnh. Hà Nội cần phát huy vai trò trung tâm nghiên cứu-phát triển, đổi mới sáng tạo, tài chính, giáo dục và dịch vụ chất lượng cao, đồng thời tăng cường kết nối với các trung tâm sản xuất, công nghiệp và logistics của toàn vùng.

Quan điểm này đặt ra yêu cầu về sự phân công, phối hợp trong tổ chức không gian kinh tế, trong đó mỗi địa phương phát huy lợi thế riêng nhưng cùng tham gia vào các chuỗi giá trị chung. Đặc biệt, cần khuyến khích doanh nghiệp chủ động kết nối, mở rộng hợp tác đầu tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và năng lực cạnh tranh của toàn vùng.

ttxvn-quy-hoach-tong-the-thu-do-ha-noi.jpg
Đông đảo người dân xem quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội bằng sa bàn, ứng dụng công nghệ trình chiếu 3D mapping. (Ảnh: Quốc Khánh/TTXVN)

Ở góc độ quản lý, các chương trình liên kết cần được cụ thể hóa bằng mục tiêu, nguồn lực và trách nhiệm thực hiện rõ ràng; đồng thời tăng cường chia sẻ dữ liệu, thông tin quy hoạch, phối hợp đầu tư hạ tầng và tháo gỡ những điểm nghẽn trong triển khai các dự án liên tỉnh.

Nghị quyết 27-NQ/TW cùng với Luật Thủ đô năm 2026 và Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm đang tạo cơ sở để Hà Nội tổ chức lại không gian phát triển theo hướng liên kết, đồng bộ và khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực của vùng.

Trong không gian phát triển đó, vai trò của Hà Nội không chỉ được thể hiện qua quy mô kinh tế của riêng Thủ đô mà còn ở khả năng kết nối nguồn lực, lan tỏa khoa học-công nghệ, thúc đẩy các chuỗi giá trị và tạo động lực tăng trưởng cho các địa phương. Đây là cơ sở để Hà Nội phát huy vai trò hạt nhân, cực tăng trưởng, đóng góp vào sự phát triển chung của vùng và cả nước./.

(TTXVN/Vietnam+)
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị đã xác lập tư duy phát triển mới khi xác định vùng đô thị Hà Nội là một trong hai cực tăng trưởng lớn nhất cả nước. Định hướng này yêu cầu Thủ đô chuyển dịch từ mô hình phát triển trong ranh giới hành chính sang không gian liên kết vùng đồng bộ. Sự thay đổi tầm nhìn chiến lược đóng vai trò hạt nhân nhằm phân bổ hiệu quả nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Thể chế hóa định hướng trên, Điều 28 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 khẳng định vị thế của Hà Nội là hạt nhân, trung tâm kết nối và động lực thúc đẩy phát triển vùng. Đồng thời, Quyết định số 2512/QĐ-UBND ngày 13/5/2026 phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm đã mở rộng phạm vi kết nối trực tiếp với 5 tỉnh gồm Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hưng Yên và Ninh Bình. Sự phối hợp giữa tầm nhìn quốc gia, hành lang pháp lý và quy hoạch đô thị tạo nền tảng vững chắc để phát huy sức lan tỏa toàn diện. Nhằm hiện thực hóa các định hướng chiến lược, việc xây dựng hệ thống hạ tầng đồng bộ và hiện đại được xác định là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Trong đó, ưu tiên phát triển hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh cùng hệ thống đường Vành đai 4 và Vành đai 5 Vùng Thủ đô. Mạng lưới giao thông và đường sắt liên vùng hoàn thiện sẽ giúp giảm áp lực cho nội đô, hạ chi phí logistics và mở ra các không gian sản xuất, dịch vụ mới cho toàn vùng.