Những ngôi đình giữa phố cổ có thể được nhìn thấy qua cánh cửa gỗ, những bức hoành phi, câu đối hay kiến trúc đã tồn tại qua nhiều thế hệ. Nhưng câu chuyện về người lập nghề, những văn bia và từng lớp ký ức đô thị gắn với di tích không phải lúc nào cũng dễ tiếp cận nếu du khách chỉ ghé thăm trong ít phút.
Hà Nội đang tìm cách rút ngắn khoảng cách ấy bằng công nghệ số. Một trong số những “cánh cửa” là nền tảng “Hành trình du lịch di sản Hà Nội,” ra mắt vào ngày 18/10, tại đình Kim Ngân (số 44 phố Hàng Bạc, phường Hoàn Kiếm).
Với những sản phẩm này, thay vì chỉ đọc bảng giới thiệu tại điểm đến, người dân và du khách có thể dùng bản đồ tương tác, quét mã QR để tìm hiểu tư liệu, hình ảnh và câu chuyện về các di tích theo từng hành trình.
Khi công nghệ bước vào di sản
“Hành trình du lịch di sản Hà Nội” là nền tảng không chỉ cung cấp thông tin để tra cứu, mà còn tạo cơ sở xây dựng những chuyến khám phá theo nhu cầu. Người yêu lịch sử có thể tìm hiểu các lớp kiến trúc và tư liệu cổ; học sinh, sinh viên có thêm nguồn học liệu cho hoạt động ngoại khóa; du khách có thể chủ động lựa chọn điểm đến theo chủ đề và quỹ thời gian.
Đây cũng là hướng đi được cơ quan quản lý văn hóa Hà Nội nhấn mạnh khi nói về số hóa di sản. Trưởng phòng Quản lý Di sản, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, bà Phạm Thị Lan Anh, cho rằng “số hóa không chỉ là lưu giữ tư liệu dưới dạng điện tử, mà còn cần tạo ra hình thức thể hiện, nội dung và phương thức truyền tải mới để di sản hiện diện sinh động hơn trong đời sống đương đại.”
Theo bà, quá trình này phải bắt đầu từ kiểm kê, thu thập và chuẩn hóa dữ liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu rồi mới phát triển các ứng dụng công nghệ. Khi tư liệu được tổ chức bài bản, di sản có thêm khả năng phục vụ nghiên cứu, giáo dục, du lịch và các ngành sáng tạo.
Ở khu phố cổ, mô hình thí điểm “Tuyến phố thông minh” trên trục Hàng Đào – Hàng Ngang – Hàng Đường – Đồng Xuân – Hàng Giấy cho thấy công nghệ có thể được đưa trực tiếp vào trải nghiệm tại điểm đến.
Ra mắt ngày 9/10 vừa qua, mô hình tích hợp Wi-Fi miễn phí, mã QR trên biển tên phố, chuyên trang thông tin song ngữ Việt-Anh, chatbot AI, bản đồ số định vị GPS và hình ảnh 360 độ tại các điểm di tích.
Với 562 cơ sở kinh doanh trên tuyến phố thí điểm, mô hình còn kết nối trải nghiệm văn hóa với hoạt động thương mại, từ thanh toán không dùng tiền mặt đến hỗ trợ hộ kinh doanh tiếp cận các nền tảng số. Du khách có thể tìm thông tin về di tích, ẩm thực, mua sắm và dịch vụ trong cùng một không gian trực tuyến, thay vì phải tra cứu từ nhiều nguồn riêng biệt.
Lãnh đạo địa phương cho biết mục tiêu không chỉ là xây dựng một không gian hiện đại hơn, mà còn giúp những giá trị vốn có của phố cổ được tiếp cận thuận tiện, quảng bá rộng rãi và trải nghiệm bằng những phương thức mới.
Bởi mỗi tuyến phố chỉ thực sự thông minh khi công nghệ “chạm” đúng nhu cầu của đời sống: người dân dễ sử dụng, du khách có thêm trải nghiệm, hộ kinh doanh nâng cao hiệu quả hoạt động và các giá trị văn hóa được lan tỏa phù hợp.
Cách làm này giúp mở rộng khái niệm số hóa, từ đưa thông tin lên mạng sang tổ chức lại trải nghiệm tại điểm đến. Nhờ công nghệ, du khách dù là lần đầu bước chân đến Thủ đô có thể biết nên đi đâu, tìm hiểu gì và kết nối các địa điểm thế nào. Và nhờ dung văn hóa được số hóa, chính du khách cũng sẽ tự thẩm định xem hành trình có đủ sức hấp dẫn hay không.
Xây dựng sản phẩm có chiều sâu từ số hóa tư liệu
Hà Nội hiện có gần 10.000 di sản các loại (bao gồm cả di tích lịch sử , văn hóa; di sản văn hóa phi vật thể; làng nghề truyền thống…), tạo nguồn tài nguyên lớn cho phát triển du lịch văn hóa. Thành phố đã ứng dụng công nghệ tại nhiều điểm đến như Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hoàng thành Thăng Long, Nhà tù Hỏa Lò và Chùa Hương, với các hình thức như vé điện tử, mã QR, thực tế ảo và thực tế tăng cường.
Trong những tháng cuối năm 2026, ngành du lịch Hà Nội đặt mục tiêu triển khai chiến dịch chuyển đổi số trong 100 ngày, phấn đấu có ít nhất 10 điểm du lịch được số hóa toàn diện; đồng thời mở rộng vé điện tử tại khoảng 25-30% điểm tham quan, du lịch. Thành phố cũng đã xác định 23 cơ sở dữ liệu chuyên ngành để phục vụ việc kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu quản lý.
Những mục tiêu này cho thấy số hóa đang được triển khai sâu rộng, từ tư liệu di sản, thông tin phục vụ du khách đến công cụ quản lý và dịch vụ tại điểm đến. Tuy nhiên, số lượng điểm được số hóa mới là một phần của kết quả. Hiệu quả cuối cùng còn phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu, khả năng cập nhật, mức độ thuận tiện khi sử dụng và việc các ứng dụng có thực sự được du khách lựa chọn hay không.
Đại diện một số đơn vị lữ hành cho rằng mã QR chỉ phát huy tác dụng khi thông tin phía sau đủ tin cậy và hấp dẫn. Mỗi bản đồ số chỉ có giá trị khi chúng giúp du khách tìm được tuyến đi hợp lý, phát hiện những điểm đến ít được biết đến hoặc dành thêm thời gian cho một di tích mà trước đó họ có thể bỏ qua.
Tương tự, hình ảnh 360 độ hay chatbot sẽ hữu ích hơn nếu được xây dựng trên nền tư liệu chính xác, có chiều sâu và phù hợp với nhiều nhóm người dùng.
Số hóa cũng không thay thế việc bảo tồn tại chỗ. Hồ sơ điện tử có thể lưu giữ tư liệu, giúp nghiên cứu và quảng bá thuận tiện hơn, nhưng không thể thay thế công tác bảo vệ kiến trúc gốc, gìn giữ hiện vật hay duy trì những thực hành văn hóa đang sống trong cộng đồng. Việc phát triển sản phẩm số vì thế cần song hành với kiểm chứng tư liệu, bảo đảm an toàn dữ liệu và tôn trọng giá trị nguyên gốc của di tích.
Với Hà Nội, việc kết nối những công cụ này thành hành trình hoàn chỉnh vừa mang đến cơ hội nhưng cũng là thách thức. Mỗi di tích có thể tiếp tục mở ra cho du khách lối đến đình thờ tổ nghề, ngôi chùa cổ hay một không gian văn hóa lân cận.
Từ thông tin lịch sử, họ có thể tìm hiểu thêm về nghề truyền thống, ẩm thực và đời sống bản địa. Khi đó, công nghệ không chỉ hỗ trợ tham quan mà còn giúp các giá trị di sản liên kết thành sản phẩm du lịch có nội dung rõ ràng; du khách vừa trải nghiệm điểm đến theo cách mới vừa có thêm cơ hội đóng góp vào sự phát triển của du lịch Thủ đô./.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia mở ra một định hướng chiến lược mới, tạo động lực quan trọng để ngành du lịch chuyển từ ứng dụng công nghệ đơn lẻ sang phát triển một hệ sinh thái du lịch số hiện đại, thông minh và dựa trên dữ liệu.
Nghị quyết 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là “đột phá quan trọng hàng đầu,” là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới phương thức quản trị quốc gia và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.
Tinh thần đó đang được cụ thể hóa trong lĩnh vực du lịch, công nghệ thay đổi cách con người tìm kiếm thông tin, lựa chọn điểm đến và tương tác với không gian văn hóa theo cách sâu sắc, thuận tiện và phù hợp hơn.
(Vietnam+)