Tính đến sáng 20/10, có 15 ngân hàng thông báo giảm lãi suất huy động, chủ yếu ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, với mức giảm phổ biến 0,5%/năm, cao nhất 0,7%/năm.
Danh sách gồm ACB, TPBank, Sacombank, SeABank, PGBank, VCBNeo, BVBank, LPBank, BacABank, OCB, NamABank, BaoVietBank, NCB, VietBank và KienlongBank.
Trong đó, LPBank giảm lãi suất trên toàn bộ kỳ hạn 1-36 tháng; BVBank giảm 0,5%/năm ở kỳ hạn 6-24 tháng; VietBank giảm 0,5%/năm với tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 6-36 tháng. ACB và NamABank cũng điều chỉnh giảm từ ngày 20/10.
Với tiền gửi dưới 6 tháng, phần lớn ngân hàng giữ nguyên lãi suất do chịu trần 4,75%/năm của Ngân hàng Nhà nước. Sau đợt điều chỉnh, lãi suất kỳ hạn 12 tháng tại phần lớn ngân hàng xuống dưới 7%/năm; khoảng 15 ngân hàng niêm yết dưới 6%/năm, không tính các mức ưu đãi đặc biệt.
Giao dịch tiền tại ngân hàng (Ảnh: Mạnh Quân).
Cùng với giảm lãi suất huy động, nhiều ngân hàng triển khai chương trình giảm lãi suất cho vay 1,5-2%/năm, tập trung vào sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.
MB giảm 1,5%/năm lãi suất cho vay đối với 5 lĩnh vực ưu tiên, mức ưu đãi có thể lên tới 2%/năm. SHB áp dụng mức giảm 1,5-2%/năm với khách hàng sản xuất, kinh doanh. Tổng giám đốc TPBank Nguyễn Hưng cho biết ngân hàng cam kết giảm 1,5-2%/năm lãi suất cho vay trong tháng 10.
OCB đưa ra mức giảm cao nhất 2,25%/năm đối với một số khoản vay trung, dài hạn dành cho khách hàng Priority Banking. Các khoản vay sản xuất, kinh doanh ngắn hạn được giảm 1,5%/năm.
Trước đó, các ngân hàng lớn như Vietcombank, Agribank, VietinBank và BIDV cũng công bố giải pháp giảm lãi suất cho vay, với mức ưu đãi phổ biến 1,5-2%/năm.
Ở nhóm tư nhân, ACB và NamABank giảm lãi suất cho vay 1,5-2%/năm, trong khi Sacombank dành tối đa 40.000 tỷ đồng cho vay doanh nghiệp với lãi suất từ 8,5%/năm và mức giảm lên tới 2%/năm.
Làn sóng giảm lãi suất diễn ra sau cuộc họp sáng 19/10 giữa Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn và đại diện 46 ngân hàng thương mại.
Theo đó, các ngân hàng phải giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi niêm yết đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, đồng thời giảm 1,5-2%/năm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.
Ngân hàng Nhà nước cũng cảnh báo sẽ áp dụng biện pháp xử lý đối với các tổ chức tín dụng không tuân thủ chỉ đạo hoặc cạnh tranh không lành mạnh gây bất ổn thị trường. Các biện pháp có thể gồm điều chỉnh giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng còn lại của năm nay, giao hạn mức tăng trưởng tín dụng thấp hơn trong năm 2027 hoặc yêu cầu áp dụng các tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn quy định.
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, khách hàng và nhóm khách hàng có dư nợ lớn. Việc cấp tín dụng cho các nhu cầu vốn có nguy cơ phát sinh rủi ro, như góp vốn, mua hoặc nhận chuyển nhượng cổ phần tại công ty cổ phần chưa niêm yết hoặc chưa đăng ký giao dịch, cũng cần được kiểm soát chặt chẽ.
Theo chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Trí Hiếu, giảm lãi suất có thể hỗ trợ mở rộng hoạt động tín dụng, nhưng không đồng nghĩa với việc nới lỏng các điều kiện cho vay. Việc duy trì chuẩn mực tín dụng là cần thiết để ngăn ngừa nợ xấu, hạn chế dòng vốn chảy vào các hoạt động đầu cơ, rủi ro và bảo đảm an toàn hệ thống.
TS Nguyễn Trí Hiếu cũng lưu ý rằng các ngân hàng cần duy trì mức lợi nhuận hợp lý; nếu giảm lãi suất cho vay quá mạnh, khả năng sinh lời của ngân hàng có thể bị ảnh hưởng, từ đó tác động đến sự an toàn của chính hệ thống cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Từ góc độ này, bài toán điều hành lãi suất không chỉ là giảm chi phí vay vốn cho khách hàng mà còn phải bảo đảm sự cân đối giữa lợi ích của doanh nghiệp, năng lực tài chính của các tổ chức tín dụng và yêu cầu ổn định thị trường tiền tệ.
Việc giảm lãi suất cần đi đôi với tiết giảm chi phí hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị và đa dạng hóa nguồn thu, tạo dư địa giảm lãi suất trên cơ sở nâng cao hiệu quả hoạt động, thay vì chỉ dựa vào việc thu hẹp biên lợi nhuận.