Bỏ qua điều hướng

Hợp tác nông nghiệp công nghệ cao Việt-Đức: Từ tiềm năng đến hợp tác thực chất

Hợp tác nông nghiệp công nghệ cao Việt-Đức: Từ tiềm năng đến hợp tác thực chất
Nguồn ảnh: VietnamPlus (TTXVN)

Theo chuyên gia Đức, Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Để biến tiềm năng thành các dự án hợp tác thực chất, hai bên cần cùng nhau nghiên cứu, thử nghiệm. Việt Nam và Đức hợp tác bảo đảm nước sạch cho vùng thiên tai Tìm kiếm cơ hội hợp tác tại Đức cho các địa phương...

Việt Nam đang đẩy mạnh chuyển đổi nông nghiệp theo hướng hiện đại, xanh và bền vững, với sự hỗ trợ ngày càng lớn của khoa học-công nghệ.

Theo các chuyên gia Đức, Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Để biến tiềm năng thành các dự án hợp tác thực chất, hai bên cần cùng nhau nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển những giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Berlin, ông Heinrich Gerd-Witte - Ủy viên Hội đồng cố vấn, Chủ tịch Ủy ban Nông nghiệp và Thực phẩm thuộc Hiệp hội Phát triển Kinh tế và Ngoại thương Đức (BWA) - và ông Hans-Joachim Radtke, Đại diện thương mại phụ trách Việt Nam của BWA, Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế và Đổi mới Sáng tạo Đức-Việt, đều cho rằng hợp tác giữa Việt Nam và Đức có nhiều tiềm năng trong lĩnh vực này.

Nhận định về định hướng phát triển kinh tế của Việt Nam, ông Hans-Joachim Radtke cho rằng Việt Nam đang đi đúng hướng. Theo ông, Ban Lãnh đạo Việt Nam đã nhận thấy sự cần thiết phải điều chỉnh các quy định và cơ chế để duy trì tăng trưởng, điều này được thể hiện qua các nghị định mới, Quy hoạch điện VIII và nhiều chính sách liên quan.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, Việt Nam hoàn toàn có thể ứng dụng công nghệ cao và trí tuệ nhân tạo (AI) ở những lĩnh vực cần thiết.

Tuy nhiên, theo ông Hans-Joachim Radtke, điều quan trọng là công nghệ phải mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Về mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero), ông cho rằng về cơ bản, đây là hướng đi đúng, song cần được thực hiện từng bước phù hợp với điều kiện thực tế.

Chuyên gia của BWA khuyến nghị Đức và châu Âu đã mắc không ít sai lầm trong quá trình này, và Việt Nam không nhất thiết phải lặp lại những sai lầm đó.

Hai chuyên gia đánh giá Việt Nam có nền tảng nông nghiệp khá vững và là nền kinh tế phát triển năng động. Tuy nhiên, cũng như các quốc gia khác, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu, nguồn nước, quá trình đô thị hóa và yêu cầu ngày càng cao đối với thực phẩm an toàn, bền vững. Những sức ép này đồng thời tạo ra nhu cầu lớn về các giải pháp công nghệ mới.

ttxvn-hop-tac-nong-nghiep-cong-nghe-cao-viet-nam-duc-tu-tiem-nang-den-hop-tac-thuc-chat-9024800.jpg
Ông Heinrich Gerd-Witte (áo trắng-bên trái), Ủy viên Hội đồng cố vấn, Chủ tịch Ủy ban Nông nghiệp và Thực phẩm thuộc Hiệp hội Phát triển Kinh tế và Ngoại thương Liên bang Đức (BWA) và ông Hans-Joachim Radtke, Ủy viên Hội đồng cố vấn, Đại diện thương mại phụ trách Việt Nam thuộc BWA, Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế và Đổi mới Sáng tạo Đức-Việt trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN, nhấn mạnh đến cơ hội và tiềm năng hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao giữa Việt Nam và Đức. (Ảnh: Thùy Linh/TTXVN)

Ông Heinrich Gerd-Witte nhận định mục tiêu hợp tác giữa hai nước không chỉ là phát triển nông nghiệp và nâng cao đời sống người dân địa phương, mà còn hướng tới việc giúp nông sản Việt Nam tiếp cận tốt hơn thị trường thế giới, đặc biệt là thị trường châu Âu, qua đó thúc đẩy trao đổi hàng hóa hai chiều.

Trong khi đó, Đức có thế mạnh ở công nghệ phục vụ nông nghiệp như hệ thống hỗ trợ bằng AI, công nghệ lái tự động, kết nối máy móc, số hóa, tự động hóa, kinh tế tuần hoàn và các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu. Những kinh nghiệm này có thể đóng góp cho quá trình hiện đại hóa nông nghiệp tại Việt Nam.

Tuy nhiên, để hợp tác nông nghiệp giữa hai nước đạt hiệu quả thực chất, hai chuyên gia cho rằng vẫn còn nhiều rào cản cần phải tháo gỡ. Một trong những vấn đề là sự khác biệt về kỳ vọng giữa hai bên.

Chuyên gia Hans-Joachim Radtke nêu ví dụ, trong một dự án mà công ty của ông hợp tác với Việt Nam, phía Việt Nam mong muốn có nhà đầu tư, trong khi phía Đức lại cần những dự án có tính khả thi tài chính để có thể tiếp cận nguồn vốn ngân hàng. Tình trạng thiếu ngân sách từ cả hai phía khiến nhiều dự án khó triển khai.

Bên cạnh vấn đề vốn, các dự án nông nghiệp cần được khảo sát trực tiếp tại địa phương, với sự tham gia của nông dân, kỹ thuật viên, nhà khoa học, chính quyền và người tiêu dùng. Một giải pháp hiệu quả tại Đức chưa chắc đã phù hợp với điều kiện của Việt Nam, do đó, việc xây dựng kế hoạch từ xa mà không hiểu rõ thực tế địa phương sẽ khó mang lại kết quả.

Những khác biệt về cách tiếp cận và trình độ công nghệ cũng là thách thức đối với hợp tác.

Theo các chuyên gia, trong khi nhiều thiết bị tại Việt Nam đã được sử dụng trong thời gian dài, công nghệ của Đức lại hướng tới tự động hóa và ứng dụng AI. Nếu người lao động chưa được chuẩn bị về tâm lý và nhận thức, việc đưa công nghệ mới vào sản xuất có thể làm nảy sinh lo ngại về khả năng mất việc làm.

Từ những kinh nghiệm hợp tác với Việt Nam, chuyên gia BWA đề xuất chuyển từ cách tiếp cận “xuất khẩu công nghệ” sang “cùng nhau chuyển đổi.” Theo đó, thay vì mang nguyên một mô hình hoặc giải pháp từ Đức sang áp dụng, các bên cần cùng nhau nghiên cứu, điều chỉnh, địa phương hóa công nghệ trước khi triển khai trên diện rộng.

Phương châm được các chuyên gia nhấn mạnh là “từ thực tiễn, phục vụ thực tiễn.” Một giải pháp công nghệ cần được thử nghiệm trong điều kiện thực tế và chứng minh tính khả thi về tài chính cũng như khả năng mang lại hiệu quả lâu dài. Điều này đòi hỏi các bên chuẩn bị kỹ ngay từ đầu. Nguồn ngân sách được xác định rõ, đồng thời tiến hành khảo sát thực địa, đánh giá hiện trạng và xây dựng nghiên cứu tiền khả thi.

Hai chuyên gia nhấn mạnh vai trò của những nhà trung gian điều phối, đặc biệt là những người thành thạo cả tiếng Việt và tiếng Đức, cũng rất quan trọng trong quá trình kết nối và thu hẹp khác biệt về văn hóa cũng như cách làm việc.

Từ cách tiếp cận này, các chuyên gia đánh giá dư địa hợp tác giữa Việt Nam và Đức trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao vẫn còn rất lớn. Những lĩnh vực có thể thúc đẩy hợp tác gồm trồng lúa thông minh, nông nghiệp chính xác, nuôi trồng thủy sản bền vững, quản lý nước, kinh tế tuần hoàn, ứng dụng cảm biến, nền tảng dữ liệu, AI và nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu.

Nông nghiệp đô thị và nông nghiệp trong nhà cũng là những lĩnh vực đáng chú ý, đặc biệt là tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh - nơi các mô hình này có thể góp phần đảm bảo nguồn cung lương thực tại chỗ, đồng thời tiết kiệm những nguồn tài nguyên đất và nước.

Ông Heinrich Gerd-Witte và ông Hans-Joachim Radtke nhấn mạnh mục tiêu của hợp tác không phải là đưa càng nhiều công nghệ Đức vào Việt Nam càng tốt. Điều quan trọng hơn là cùng tìm ra và phát triển những giải pháp phù hợp với điều kiện của Việt Nam, có thể tạo ra tác động lâu dài đối với người dân, nền kinh tế và môi trường./.

(TTXVN/Vietnam+)
Việt Nam đang thúc đẩy chuyển đổi nông nghiệp theo hướng hiện đại, xanh và bền vững, trong đó khoa học và công nghệ ngày càng giữ vai trò quan trọng. Theo các chuyên gia thuộc Hiệp hội Phát triển Kinh tế và Ngoại thương Đức (BWA), nền tảng nông nghiệp vững cùng tốc độ phát triển kinh tế năng động tạo điều kiện để Việt Nam mở rộng ứng dụng công nghệ cao. Ông Hans-Joachim Radtke, Đại diện thương mại phụ trách Việt Nam của BWA, đánh giá Việt Nam đang đi đúng hướng khi điều chỉnh quy định, cơ chế và triển khai các chính sách như Quy hoạch điện VIII nhằm duy trì tăng trưởng. Trong nông nghiệp, AI có thể được ứng dụng vào những khâu cần thiết, nhưng tiêu chí quyết định phải là hiệu quả kinh tế thay vì chạy theo công nghệ. Nhu cầu đổi mới càng trở nên cấp thiết trước sức ép từ biến đổi khí hậu, nguồn nước, đô thị hóa và yêu cầu ngày càng cao đối với thực phẩm an toàn, bền vững. Với mục tiêu phát thải ròng bằng 0, Việt Nam cần triển khai từng bước phù hợp điều kiện thực tế, đồng thời tham khảo kinh nghiệm để tránh những sai lầm Đức và châu Âu từng gặp phải. Ông Heinrich Gerd-Witte, Chủ tịch Ủy ban Nông nghiệp và Thực phẩm thuộc BWA, cho rằng hợp tác Việt Nam và Đức không chỉ nhằm nâng cao năng lực sản xuất và đời sống người dân địa phương, mà còn hỗ trợ nông sản Việt Nam tiếp cận thị trường thế giới, đặc biệt là châu Âu. Để triển vọng này chuyển thành dự án thực chất, hai bên cần cùng nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển giải pháp phù hợp, qua đó kết nối thế mạnh công nghệ nông nghiệp của Đức với nhu cầu chuyển đổi của Việt Nam.