Đóng hơn 150 triệu, cho rằng hợp đồng có nhiều điểm bất lợi
Ngày 19/10/2020, bà Nguyễn Thị V. (Hà Nội) ký một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ với Công ty TNHH B. để tham gia sản phẩm bảo hiểm P. đầu tư linh hoạt với số tiền bảo hiểm 672 triệu đồng và sản phẩm bảo hiểm bệnh hiểm nghèo 200 triệu đồng. Phí bảo hiểm hàng năm là hơn 60 triệu đồng, thời gian thực hiện hợp đồng 8 năm.
Theo bà V., sau khi đóng bảo hiểm khoảng 2 năm 6 tháng, với tổng số tiền hơn 150,1 triệu đồng, bà phát hiện nhiều nội dung trong hợp đồng không đúng.
Bà cho rằng, hợp đồng có tính mặc định, hai bên không ký trực tiếp và khách hàng không được lựa chọn loại hợp đồng phù hợp. Hợp đồng dài, câu từ mập mờ, khiến bà không hiểu rõ như nội dung các quy định chỉ mang tính tham khảo, bảng minh họa quyền lợi bảo hiểm.
Ngoài ra, hồ sơ cá nhân ghi thu nhập của bên mua bảo hiểm là 50 triệu đồng/tháng, trong khi bà là cán bộ quân đội nghỉ hưu và không có mức thu nhập này. Thu nhập của cả gia đình được ghi 60 triệu đồng/tháng cũng bị bà cho là không đúng.
Hợp đồng có thời điểm đáo hạn khi bà 99 tuổi nhưng không hướng dẫn rõ về người nhận tiền trong trường hợp bà qua đời. Bà V. cũng cho biết, nhân viên bảo hiểm đã tư vấn nếu đóng đủ 8 năm sẽ nhận lại cả gốc và lãi khoảng 16%/năm.
Theo bà V., mục đích ban đầu của bà khi đến ngân hàng là gửi tiền tiết kiệm lấy lãi, không phải mua bảo hiểm. Do thiếu hiểu biết pháp luật, bà cho rằng mình đã bị lừa dối khi ký hợp đồng.
Ngày 1/1/2023, bà V. gửi đơn khiếu nại đến Công ty B. Ngày 11/4/2023, bà yêu cầu hủy hợp đồng và đề nghị được trả lại hơn 150,1 triệu đồng đã đóng nhưng chưa được nhận.
Do đó, bà V. khởi kiện, yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng bảo hiểm vô hiệu, buộc công ty bảo hiểm trả lại số tiền mà bà đã nộp.
Tuy nhiên, Công ty B. không đồng ý. Theo doanh nghiệp, ngày 12/10/2020, bà V. đã xác nhận việc sử dụng hồ sơ yêu cầu bảo hiểm, chữ ký điện tử và mã xác thực OTP. Bà cũng xác nhận đã được đại lý bảo hiểm tư vấn về quy trình nộp hồ sơ, tự kê khai các thông tin về sức khỏe, tài chính, nghề nghiệp và xác nhận sản phẩm được lựa chọn phù hợp với nhu cầu bảo hiểm.
Công ty B. cho biết, bảng minh họa quyền lợi bảo hiểm và các điều kiện, điều khoản sản phẩm đều đã được cung cấp cho bà V. Trong các tài liệu này không có nội dung nào thể hiện mức lãi suất đầu tư 16%/năm như bà trình bày.
Trong thời gian thực hiện hợp đồng, hàng năm đơn vị bảo hiểm đều gửi thông báo về tình trạng hợp đồng và giá trị tài khoản cho bà V. Các thông báo của năm 2020, 2021 và 2022 đều được bà nhận.
Đáng chú ý, theo Công ty B., hợp đồng cho phép bà V. có 21 ngày cân nhắc; nếu có nội dung không phù hợp có thể yêu cầu sửa đổi hoặc hủy mà không mất chi phí. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này cũng như quá trình thực hiện hợp đồng, bà không có thông báo phản đối nội dung hợp đồng.
Công ty B. cho rằng không có căn cứ xác định bà V. bị lừa dối và đề nghị tòa án không chấp nhận yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu.
Tòa xác định hợp đồng có hiệu lực
Theo Công ty B., tổng phí theo hợp đồng trong giai đoạn này là hơn 150,5 triệu đồng; sau khi trừ giá trị chương trình quà tặng tri ân khách hàng, số tiền bà V. thực tế đã đóng là hơn 150,1 triệu đồng.
Do đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm P. đầu tư linh hoạt, một phần phí bảo hiểm được đưa vào tài khoản đầu tư của khách hàng, phần còn lại được sử dụng cho các khoản phí theo sản phẩm.
Theo Công ty B., tỷ lệ phí bảo hiểm được phân bổ vào quỹ đầu tư thay đổi theo từng năm và tăng dần trong những năm sau.
Đối với hợp đồng của bà V, công ty bảo hiểm cho biết, năm 2020 bà V. đóng hơn 51,3 triệu đồng phí cho sản phẩm chính. Trong số này, hơn 7,6 triệu đồng được phân bổ vào quỹ đầu tư; sau khi tính các khoản phí và các khoản điều chỉnh theo hợp đồng, giá trị tài khoản cuối năm 2020 là hơn 5,3 triệu đồng.
Tương tự, cuối năm 2021 tài khoản của bà V. là hơn 8 triệu đồng và cuối năm 2022 là hơn 20,3 triệu đồng.
Công ty B. cho biết, khi bà V. yêu cầu hủy hợp đồng, giá trị hoàn lại mà bà có thể nhận là hơn 20,9 triệu đồng. Hợp đồng đã chấm dứt theo yêu cầu của bà nhưng bà chưa đồng ý nhận khoản tiền này.
Ngày 14/8/2024, TAND quận Đống Đa, Hà Nội xét xử sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu của bà V., đồng thời chấm dứt hợp đồng và buộc Công ty B. thanh toán cho bà hơn 20,9 triệu đồng.
Không đồng ý, bà V. kháng cáo.
HĐXX phúc thẩm nhận định, tại thời điểm ký hợp đồng, bà V. không có ý kiến khiếu nại và đã thực hiện hợp đồng liên tục từ năm 2020 đến năm 2023. Đến ngày 2/1/2023, bà mới gửi đơn khiếu nại, cho rằng bị lừa dối và tư vấn sai lệch nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh.
HĐXX cho rằng bà V. có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và phải chịu trách nhiệm đối với việc ký kết hợp đồng bảo hiểm. Hợp đồng được hai bên tự nguyện ký kết, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm, nên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành.
Đối với yêu cầu hoàn trả toàn bộ hơn 150,1 triệu đồng, HĐXX căn cứ điều khoản sản phẩm bảo hiểm xác định khách hàng có quyền chấm dứt hợp đồng trước thời hạn nhưng khi chấm dứt sẽ nhận giá trị hoàn lại của hợp đồng.
Tại thời điểm bà V. yêu cầu hủy hợp đồng, số tiền hoàn lại là 20,9 triệu đồng. Tòa cho rằng, việc cấp sơ thẩm buộc Công ty B. thanh toán khoản tiền này là có căn cứ.
Bà V. còn cho rằng hợp đồng không quy định rõ người thụ hưởng trong trường hợp mình qua đời. Tuy nhiên, HĐXX nhận định việc xác định người thụ hưởng thuộc nội dung thỏa thuận giữa các bên; việc hợp đồng không ghi nhận người thụ hưởng theo cách bà mong muốn không phải căn cứ để tuyên hợp đồng vô hiệu.
HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo về nội dung của bà V., chỉ chấp nhận một phần về thủ tục để sửa bản án sơ thẩm về tên bị đơn là Công ty TNHH B.
Tòa giữ quyết định buộc Công ty TNHH B. trả cho bà V. hơn 20,9 triệu đồng giá trị hoàn lại của hợp đồng và không chấp nhận yêu cầu tuyên hợp đồng bảo hiểm đã ký vô hiệu.
(Bài viết dựa trên Bản án số 766/2024/DS-PT ngày 27/12/2024 của TAND TP Hà Nội).