Bỏ qua điều hướng
•

Kết nối dữ liệu, mở 'hồ sơ 360 độ' về người nộp thuế

Kết nối dữ liệu, mở 'hồ sơ 360 độ' về người nộp thuế
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Chuyển đổi số đang đưa ngành Tài chính từ số hóa từng quy trình sang xây dựng hệ sinh thái dữ liệu liên thông giữa Thuế, Hải quan, Kho bạc, ngân hàng, doanh nghiệp và các cơ quan quản lý. Tại Hội thảo và Triển lãm Tài chính số Việt Nam 2026, ngành Thuế đặt vấn đề hình thành mạng lưới dữ liệu liên ng...

Dữ liệu trở thành hạ tầng của tài chính số

Trong những năm qua, chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính được đẩy mạnh với việc xây dựng các cơ sở dữ liệu lớn, số hóa quy trình nghiệp vụ, triển khai hóa đơn điện tử và tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước với doanh nghiệp, tổ chức tín dụng và các chủ thể trong nền kinh tế.

Theo ông Lưu Nguyên Trí, Phó Trưởng Ban Công nghệ, chuyển đổi số và tự động hóa, Cục Thuế (Bộ Tài chính), cùng với quá trình số hóa nền kinh tế, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là xây dựng thêm các hệ thống công nghệ mà phải hình thành được một hạ tầng dữ liệu có khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả.

2-1.jpg
Phó Trưởng Ban Công nghệ, chuyển đổi số và tự động hóa Lưu Nguyên Trí trình bày về mạng lưới dữ liệu liên ngành.

Riêng ngành Thuế đang quản lý khối lượng dữ liệu rất lớn. Hệ thống hóa đơn điện tử đã ghi nhận hơn 30 tỷ hóa đơn, tiếp nhận trên 50 triệu hóa đơn mỗi ngày. Dữ liệu thuế cũng từng bước được kết nối với nhiều cơ quan, lĩnh vực như Hải quan, Kho bạc Nhà nước, ngân hàng, đăng ký kinh doanh, đất đai, thương mại điện tử...

Tuy nhiên, theo ông Trí, có nhiều dữ liệu không đồng nghĩa với việc cơ quan quản lý đã có đầy đủ thông tin để ra quyết định.

Một người nộp thuế hoặc một hoạt động kinh tế có thể để lại dữ liệu ở nhiều hệ thống khác nhau. Trong khi đó, hoạt động kinh tế số ngày càng diễn ra nhanh, nhiều giao dịch gần như theo thời gian thực, còn một số phương thức quản lý vẫn dựa trên kỳ kê khai, báo cáo định kỳ, trao đổi tệp hoặc đối soát thủ công.

Điều này tạo ra khoảng cách giữa thời điểm hoạt động kinh tế phát sinh và thời điểm cơ quan quản lý có đầy đủ thông tin để phân tích, giám sát và đưa ra quyết định.

Đặc biệt, khi AI được ứng dụng ngày càng rộng trong quản lý nhà nước, chất lượng dữ liệu trở thành yếu tố quyết định. Dữ liệu không đầy đủ, thiếu chuẩn hóa hoặc không được kết nối sẽ hạn chế khả năng phân tích và dự báo của các hệ thống AI.

“Với những chuyển động nhanh, mạnh mẽ của công nghệ thông tin, chúng ta cần thay đổi một cách tiếp cận chuyển từ ‘kết nối các hệ thống’ sang ‘hình thành mạng lưới dữ liệu phục vụ quản trị’”. Phó Cục trưởng Lưu Nguyên Trí nhấn mạnh.

Quản lý gần với thời gian thực

Theo định hướng được đưa ra tại hội thảo, đến năm 2030, ngành Tài chính hướng tới hình thành mạng lưới dữ liệu tài chính - thuế liên ngành. Dữ liệu của cơ quan Thuế, các đơn vị thuộc Bộ Tài chính, bộ, ngành, địa phương và các chủ thể liên quan sẽ được kết nối, chuẩn hóa, xác thực, chia sẻ và khai thác an toàn, đúng thẩm quyền.

1.jpg
Hội thảo và Triển lãm Tài chính số Việt Nam 2026 diễn ra tại Hà Nội.

Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận này không đặt mục tiêu gom tất cả dữ liệu về một cơ sở dữ liệu duy nhất. Thay vào đó, các nguồn dữ liệu vẫn có thể được quản lý tại nơi tạo lập nhưng phải có khả năng liên kết, đối soát và khai thác khi phát sinh nhu cầu nghiệp vụ.

Một trong những mục tiêu là hình thành nguyên tắc “một đối tượng - một định danh - một góc nhìn thống nhất”. Với cá nhân, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, tài sản hay giao dịch, dữ liệu từ các hệ thống khác nhau có thể được liên kết để xác định chính xác cùng một chủ thể.

Ngành Thuế cũng hướng tới xây dựng Taxpayer 360° - Hồ sơ người nộp thuế 360 độ. Thay vì xem xét từng mảnh dữ liệu riêng lẻ, cơ quan quản lý có thể tổng hợp thông tin liên quan trong phạm vi pháp luật cho phép để có góc nhìn đầy đủ hơn về người nộp thuế và các quan hệ kinh tế liên quan.

Phương thức quản lý dần được chuyển từ quản lý theo kỳ sang quản lý theo sự kiện đối với các hoạt động phù hợp, gần với thời gian thực. Khi phát sinh các sự kiện quan trọng như thành lập doanh nghiệp, thay đổi trạng thái, phát sinh hóa đơn, giao dịch xuất nhập khẩu, dòng tiền hoặc dấu hiệu rủi ro, hệ thống có thể tự động tiếp nhận, phân tích, cảnh báo và kích hoạt quy trình nghiệp vụ phù hợp.

Mục tiêu không phải mọi hoạt động quản lý đều phải thực hiện theo thời gian thực, mà đưa quản lý đến gần thời gian thực ở những lĩnh vực, nghiệp vụ và sự kiện mà dữ liệu cho phép và pháp luật phù hợp.

Trên nền tảng đó, AI được định hướng trở thành lớp hỗ trợ phân tích và ra quyết định, với các chức năng như dự báo, phát hiện bất thường, khuyến nghị và hỗ trợ. Trong quản lý thuế, AI có thể hỗ trợ đánh giá rủi ro, phát hiện gian lận, dự báo nguồn thu, phân tích hồ sơ và hỗ trợ người nộp thuế.

Đối với cơ quan Thuế, mục tiêu của việc phát triển mạng lưới dữ liệu liên ngành không phải là sở hữu ngày càng nhiều dữ liệu, mà là nâng cao khả năng hiểu và quản lý người nộp thuế, hỗ trợ tuân thủ, phát hiện và quản lý rủi ro, nâng cao hiệu quả điều hành và giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.

Ở góc độ Bộ Tài chính, mạng lưới dữ liệu liên ngành cần từng bước trở thành một trong những hạ tầng quan trọng của tài chính công thông minh, cho phép kết nối và khai thác hiệu quả dữ liệu Thuế, Hải quan, Kho bạc, ngân sách, doanh nghiệp, các cơ sở dữ liệu quốc gia và dữ liệu từ nền kinh tế số trên một kiến trúc thống nhất, có cơ chế quản trị, kiểm soát và bảo đảm niềm tin.

Chuyển đổi số trong ngành Tài chính đang ghi nhận sự dịch chuyển chiến lược từ việc số hóa từng quy trình riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái dữ liệu liên thông đa ngành. Tại Hội thảo và Triển lãm Tài chính số Việt Nam 2026 diễn ra ở Hà Nội, Cục Thuế thuộc Bộ Tài chính đã đặt vấn đề hình thành mạng lưới dữ liệu kết nối giữa các cơ quan Thuế, Hải quan, Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng và doanh nghiệp. Dù hạ tầng hiện tại của ngành Thuế đã ghi nhận hơn 30 tỷ hóa đơn điện tử với lưu lượng xử lý vượt 50 triệu giao dịch mỗi ngày, quản lý dữ liệu hiện nay vẫn đối mặt với những thách thức lớn. Theo ông Lưu Nguyên Trí, Phó Trưởng Ban Công nghệ, chuyển đổi số và tự động hóa thuộc Cục Thuế, việc sở hữu khối lượng dữ liệu lớn chưa đồng nghĩa với khả năng ra quyết định quản lý tối ưu. Nhiều hoạt động kinh tế phát sinh theo thời gian thực nhưng công tác giám sát vẫn phụ thuộc vào kỳ kê khai định kỳ, đối soát thủ công hoặc trao đổi tệp dữ liệu rời rạc. Sự lệch pha về thời gian này tạo ra rào cản lớn khi áp dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo, bởi chất lượng và độ kết nối của dữ liệu đóng vai trò quyết định đến độ chính xác trong phân tích và dự báo. Nhằm giải quyết triệt để vấn đề này, định hướng đến năm 2030 của ngành Tài chính tập trung vào việc chuyển đổi từ kết nối các hệ thống đơn lẻ sang thiết lập mạng lưới dữ liệu phục vụ quản trị hiện đại. Mô hình mới duy trì việc quản lý dữ liệu tại nơi tạo lập nhưng bảo đảm khả năng liên kết, đối soát linh hoạt theo nguyên tắc một đối tượng, một định danh, một góc nhìn thống nhất. Cách tiếp cận này giúp tạo lập hồ sơ toàn diện về người nộp thuế, mở ra khả năng giám sát sát với thời gian thực và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.