Bỏ qua điều hướng

Khai quật mộ cổ 1.600 năm tuổi ở Nghệ An, phát lộ kho tùy táng quý hiếm

Khai quật mộ cổ 1.600 năm tuổi ở Nghệ An, phát lộ kho tùy táng quý hiếm
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Hai ngôi mộ gạch có niên đại khoảng 1.600 năm tại Rú Bụt (Nghệ An) còn lưu giữ nhiều đồ tùy táng, trong đó có tiền cổ, vũ khí, hạt chuỗi thủy tinh và kim loại màu vàng. Khai quật ngôi mộ nghi cổ, phát hiện kiếm, tiền xưa Bất ngờ phát hiện mộ cổ đồ sộ gần 2.000 năm tuổi ngay trong vườn nhà Khai quật ...

Hai ngôi mộ gạch cổ hiếm hoi còn giữ dấu tích nguyên trạng

Chiều 16/9, Bảo tàng Nghệ An - Xô viết Nghệ Tĩnh phối hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) tổ chức hội nghị báo cáo sơ bộ kết quả khai quật khẩn cấp dấu tích mộ gạch Rú Bụt, xã Kim Liên, Nghệ An.

Tháng 4, trong lúc đào đất trồng cây tại Rú Bụt, anh Trần Đình Tuấn phát hiện dấu tích vòm cuốn của một ngôi mộ gạch. Một phần tường và vòm mộ bị sụt lở, lộ thiên, lòng mộ bị đất bồi lấp. Dưới đáy xuất hiện một số đồ tùy táng bằng kim loại, gốm men.

Trước nguy cơ di tích tiếp tục bị tác động, tháng 8/2026, Bảo tàng Nghệ An - Xô viết Nghệ Tĩnh phối hợp ĐHQGHN tiến hành khai quật.

tp-20.jpg
Khu vực khai quật hai mộ cổ tại Rú Bụt, xã Kim Liên, Nghệ An.
tp-12.jpg
Hầm mộ được xây bằng gạch chữ nhật màu đỏ, xám, độ nung thấp, với nhiều kích thước khác nhau.
tp-14.jpg
Hai ngôi mộ gạch có niên đại khoảng 1.600 năm.

Theo TS. Nguyễn Văn Anh - Trưởng khoa Lịch sử và Văn hóa, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - cuộc khai quật xác định hai ngôi mộ gạch, ký hiệu RB.2026.M1 và RB.2026.M2, có cùng hướng.

Hai mộ đều có huyệt, huyệt đạo và hầm mộ. Gạch xây chủ yếu là gạch chữ nhật màu đỏ, xám, độ nung thấp. Một số viên có hoa văn ô ca-rô, hoa thị hoặc dấu “x”.

M1 nằm sâu hơn 1,4m so với mặt đường hiện nay. Một phần cửa mộ và vòm cuốn bị máy xúc phá hủy. Hầm mộ dài gần 3m, rộng khoảng 1,5m, cao hơn 1,1m.

M2 nằm sâu khoảng 2,24m và chưa bị xâm phạm trước khi khai quật. Hầm mộ gồm tiền thất và thất chính; thất chính dài hơn 3,8m, rộng khoảng 1,3m, cao khoảng 1,25m. Nền được lát gạch theo quy luật 4 hàng xếp ngang xen một hàng xếp dọc.

“Đây là hai trong những ngôi mộ gạch hiếm hoi chưa bị xâm hại trước khi được phát lộ. Điều này cung cấp thông tin chính xác về cách thức bài trí các đồ tùy táng trong hầm mộ”, TS. Nguyễn Văn Anh cho hay.

Từ địa tầng, cấu trúc, kỹ thuật xây dựng và hệ thống di vật, nhóm nghiên cứu bước đầu xác định hai mộ được xây dựng vào giai đoạn Lục Triều, khoảng thế kỷ IV-VI.

Tiền cổ, vũ khí và những hạt chuỗi đặc biệt

Các đồ tùy táng trong hai mộ khá đa dạng. Tại M1, nhóm khai quật ghi nhận đồ gốm men, gốm đất nung, thủy tinh và kim loại. Gốm men gồm âu, nắp, chén, bát; gốm đất nung có tiêu bản được xác định có thể là chân đèn.

Đặc biệt, các nhà khảo cổ phát hiện tiền Ngũ Thù cùng nhiều hiện vật thuộc nhóm vũ khí, công cụ như mũi nhọn, lưỡi đao, chuôi đao, kiếm và dao. Phần lớn đã gãy, oxy hóa.

Khi hầm mộ được phát lộ, kiếm và đao nằm tại vị trí đầu mộ, xếp chéo nhau tạo thành hình mũi nhọn hướng về phía đầu mộ. Một chuôi bằng gỗ bọc sắt cũng được ghi nhận, có khả năng là chuôi dao.

M2 gây chú ý bởi hệ thống tùy táng còn tương đối nguyên vẹn. Đồ gốm tập trung tại đầu mộ và hai bên cửa, gồm bình, nắp, nồi, vò, lọ, dọi se chỉ, chén. Đồ sành có lọ, nắp và chén.

tp-3-5259.jpg
Cận cảnh các di vật gồm kiếm, trang sức, bình gốm… được phát hiện trong lòng mộ gạch gần 1.600 năm tuổi.
tp-6.jpg
Hạt chuỗi nhỏ bằng kim loại màu vàng và thủy tinh phủ kim loại được phát hiện trong hai mộ gạch.

Nhóm hiện vật kim loại gồm muôi đồng, vòng tay, dao bằng sắt. Đặc biệt, các nhà khảo cổ phát hiện hạt chuỗi nhỏ, hạt chuỗi đa giác, lá hoặc cánh hoa bằng kim loại màu vàng, thủy tinh phủ kim loại và các hạt chuỗi thủy tinh dạng đa giác.

Một số hạt chuỗi có đặc điểm tương đồng với hiện vật từng được phát hiện tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan và di chỉ Óc Eo của Việt Nam, cung cấp thêm tư liệu nghiên cứu sự giao lưu, trao đổi văn hóa trong khu vực.

Quanh Rú Bụt, người dân còn phát hiện một số lon sành thời Lý - Trần, bát men nâu, men ngọc thời Trần. Phía trên vòm cửa M1, đoàn khai quật ghi nhận hai lon sành thời Lý xếp liền nhau, miệng đậy bằng một đĩa úp.

tp-4-7413.jpg
tp-18.jpg
Các chuyên gia bước đầu xác định, hai mộ gạch có niên đại thế kỷ IV-VI, thuộc giai đoạn Lục Triều.

Theo nhóm nghiên cứu, nếu tiếp tục xác nhận sự phân bố tập trung và mối liên hệ không gian của các dấu tích, Rú Bụt có thể từng là không gian mộ táng được sử dụng qua nhiều giai đoạn, từ thế kỷ IV-VI đến thời Lý - Trần.

Đoàn khai quật kiến nghị, trước mắt lấp phủ bảo vệ hố khai quật, hạn chế tác động của môi trường và con người; đồng thời khảo sát tổng thể khu vực Rú Bụt và mở rộng nghiên cứu các di tích khảo cổ, lịch sử, văn hóa liên quan trong lưu vực sông Lam.

Việc khai quật khẩn cấp hai ngôi mộ gạch tại Rú Bụt, xã Kim Liên, Nghệ An, đã cung cấp nguồn tư liệu hiếm về táng tục cách đây khoảng 1.600 năm. Dấu tích được anh Trần Đình Tuấn phát hiện vào tháng 4/2026 khi đào đất trồng cây, trước khi Bảo tàng Nghệ An - Xô viết Nghệ Tĩnh phối hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN, tiến hành khai quật vào tháng 8/2026. Hai mộ mang ký hiệu RB.2026.M1 và RB.2026.M2, có cùng hướng, đều gồm huyệt, huyệt đạo và hầm mộ xây bằng gạch chữ nhật màu đỏ hoặc xám, độ nung thấp. Một số viên gạch mang hoa văn ô ca-rô, hoa thị hoặc dấu “x”, trong khi địa tầng, cấu trúc, kỹ thuật xây dựng và hệ thống di vật cho phép nhóm nghiên cứu bước đầu xác định niên đại thuộc giai đoạn Lục Triều, khoảng thế kỷ IV-VI. M1 nằm sâu hơn 1,4 m so với mặt đường hiện nay, có hầm mộ dài gần 3 m, rộng khoảng 1,5 m và cao hơn 1,1 m, nhưng một phần cửa cùng vòm cuốn đã bị máy xúc phá hủy. M2 nằm sâu khoảng 2,24 m, chưa bị xâm phạm trước khai quật, gồm tiền thất và thất chính dài hơn 3,8 m, rộng khoảng 1,3 m, cao khoảng 1,25 m. Tình trạng tương đối nguyên vẹn của hai mộ đặc biệt quan trọng vì giúp giới khảo cổ xác định chính xác cách bài trí đồ tùy táng thay vì chỉ nghiên cứu những hiện vật đã xáo trộn. Kho tùy táng tại M1 gồm đồ gốm men, gốm đất nung, thủy tinh, tiền Ngũ Thù và nhiều vũ khí, công cụ như kiếm, đao, dao, mũi nhọn; kiếm và đao được đặt chéo ở đầu mộ, tạo hình mũi nhọn. Tại M2, bình, nồi, vò, lọ, chén, nắp và dọi se chỉ tập trung ở đầu mộ cùng hai bên cửa, bên cạnh đồ sành, muôi đồng, hạt chuỗi thủy tinh phủ kim loại và hạt nhỏ bằng kim loại màu vàng. Sự đa dạng và vị trí nguyên trạng của các di vật mở ra cơ sở đối chiếu có giá trị về kỹ thuật xây mộ, đời sống vật chất và nghi thức mai táng tại khu vực Nghệ An trong các thế kỷ IV-VI.