Bỏ qua điều hướng
•

Khảo cổ học "giải mã" lịch sử Việt Nam từ những dấu tích dưới lòng đất

Khảo cổ học "giải mã" lịch sử Việt Nam từ những dấu tích dưới lòng đất
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Những phát hiện khảo cổ học mới không chỉ bổ sung tư liệu lịch sử mà còn đặt ra yêu cầu đẩy mạnh nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Ngày 15/10, phát biểu tại Hội thảo “Những phát hiện mới về Khảo cổ học toàn quốc lần thứ 61, năm 2026”, GS.TS Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cho rằng có những câu hỏi về lịch sử mà sử liệu thành văn không thể trả lời hoặc chưa phản ánh đầy đủ. Nhiều giai đoạn của quá khứ còn nằm sâu trong lòng đất, dưới đáy sông, đáy biển, chỉ có thể từng bước được nhận diện và giải mã thông qua khảo cổ học.

Theo ông Lợi, mỗi phát hiện khảo cổ học không đơn thuần là tìm thấy thêm một di tích hay di vật. Đằng sau mỗi lớp văn hóa được nhận diện, mỗi di tích được khai quật hay di vật được nghiên cứu là những câu chuyện về con người, cộng đồng cư dân, cấu trúc xã hội, đời sống kinh tế, tín ngưỡng, văn hóa và các mối quan hệ giao lưu trong quá khứ.

Khảo cổ học giải mã lịch sử Việt Nam từ những dấu tích dưới lòng đất - 1

GS.TS Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phát biểu tại hội thảo (Ảnh: Minh Chiến).

“Khảo cổ học chính là một trong những con đường quan trọng để chúng ta tìm về cội nguồn và nhận thức sâu sắc hơn lịch sử của đất nước”, ông Lợi nhấn mạnh.

Theo Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, trong bối cảnh đất nước phát triển nhanh chóng, khảo cổ học có thêm nhiều cơ hội nhưng cũng đứng trước những yêu cầu mới.

Trước hết, cần mở rộng điều tra, nghiên cứu những vùng, thời kỳ và vấn đề còn thiếu tư liệu; nâng cao chất lượng khai quật và nghiên cứu sau khai quật, chú trọng phân tích chuyên sâu, nghiên cứu liên ngành và ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ mới.

Bên cạnh đó, cần xây dựng, chuẩn hóa hệ thống tư liệu, từng bước hình thành các cơ sở dữ liệu khảo cổ học có giá trị lâu dài, phục vụ nhiều thế hệ nghiên cứu, thay vì chỉ đáp ứng nhu cầu của một công trình hay một cuộc khai quật.

Ông Lợi cũng lưu ý việc công bố, phổ biến kết quả nghiên cứu cần được quan tâm hơn, để tri thức khảo cổ học không chỉ giới hạn trong các báo cáo khoa học mà trở thành một phần của tri thức xã hội.

Khảo cổ học giải mã lịch sử Việt Nam từ những dấu tích dưới lòng đất - 2

Các nhà nghiên cứu tham quan không gian tư liệu khảo cổ tại hội thảo (Ảnh: Minh Chiến).

Đặc biệt, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản khảo cổ học cần được thực hiện hiệu quả hơn. Theo ông, một di tích được phát hiện nhưng không được bảo vệ có nguy cơ bị mất đi; di vật không được nghiên cứu, bảo quản đúng cách sẽ khó phát huy đầy đủ giá trị; còn kết quả nghiên cứu không được công bố, chia sẻ sẽ khó trở thành tài sản tri thức chung.

Tại hội thảo, TS Đỗ Trường Giang, Viện Khảo cổ học, đã báo cáo tổng quan hoạt động khảo cổ học toàn quốc năm 2025-2026.

Các cuộc khảo sát, khai quật đã bổ sung nhiều tư liệu về di tích, di vật và đời sống của các cộng đồng cư dân trong quá khứ. Tại Quảng Ninh, cuộc khai quật mộ cổ Chạp Khê vào tháng 12/2025 thu được 2.673 hiện vật. Theo nhận định ban đầu, di tích có niên đại khoảng nửa đầu thế kỷ II.

Trong khi đó, các cuộc khai quật tại thành Nam Chơn và thành Chơn Sảng ở Đà Nẵng tiếp tục cung cấp tư liệu về dấu tích kiến trúc, hệ thống phòng thủ. Trong số hiện vật thu được, thành Nam Chơn có 904 hiện vật, thành Chơn Sảng có 60 hiện vật.

Khảo cổ học giải mã lịch sử Việt Nam từ những dấu tích dưới lòng đất - 3

Khai quật Thành Châu Sa (Quảng Ngãi) năm 2026 (Ảnh: Chụp lại từ tư liệu).

TS Đỗ Trường Giang cho biết ở lĩnh vực khảo cổ học Champa - Óc Eo, nghiên cứu tại thành Châu Sa và khu di tích Óc Eo - Ba Thê tiếp tục bổ sung tư liệu về cấu trúc di tích. Đáng chú ý, tại Gò Tư Trâm, các nhà khảo cổ thu được 12.894 mẫu vật, gồm 8.232 hiện vật đất nung phục vụ sinh hoạt, 822 hiện vật gạch và 3.784 viên ngói.

Khảo cổ học dưới nước cũng được triển khai tại nhiều địa điểm, như thuyền cổ Hà Mãn, tàu đắm Cù Lao Chàm và các dấu tích cọc gỗ gần đền Kiếp Bạc. Các kết quả nghiên cứu cung cấp thêm tư liệu về phương tiện đi lại, kỹ thuật hàng hải và hoạt động của cư dân qua các thời kỳ lịch sử.

Ở lĩnh vực khảo cổ học lịch sử, PGS.TS Tống Trung Tín, Chủ tịch Hội Khảo cổ học Việt Nam đã thông tin về đợt khai quật năm 2026 tại khu vực Chính điện Kính Thiên, thuộc Khu di sản Hoàng thành Thăng Long.

Theo ông Tín, tại khu vực Chính điện Kính Thiên, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học tiến hành khai quật lần thứ tư trong năm 2026 trên diện tích 910m2, gồm 840m2 phía Đông và 70m2 phía Tây Nhà Pháo binh.

Kết hợp với các đợt nghiên cứu trước, kết quả làm rõ thêm nền điện, hệ thống móng cột, bó nền và các mặt sân lát gạch của Chính điện Kính Thiên thời Lê; đồng thời bổ sung dấu tích điện Long Thiên thời Nguyễn. Báo cáo xác định kích thước tổng thể nền Chính điện Kính Thiên khoảng 56,06 × 30m, với hệ thống móng cột đơn và kép có cấu trúc gia cố quy mô lớn.

Riêng điện Long Thiên, năm 2026 phát hiện thêm bảy móng cột, cùng móng bậc thềm và cống thoát nước dài 17,5m. Địa tầng được ghi nhận dày khoảng 6 m, chứa các lớp văn hóa từ Đại La, Đinh - Tiền Lê, Lý, Trần, Lê đến Nguyễn và cận hiện đại.

Tại Hội thảo Những phát hiện mới về Khảo cổ học toàn quốc lần thứ 61 năm 2026, GS.TS Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, khẳng định khảo cổ học đóng vai trò then chốt trong việc giải mã các giai đoạn lịch sử mà tư liệu thành văn chưa phản ánh đầy đủ. Đằng sau mỗi tầng văn hóa hay di vật phát lộ là những chỉ dấu quan trọng tái hiện cấu trúc xã hội, kinh tế và đời sống tín ngưỡng của tiền nhân. Do đó, nghiên cứu dưới lòng đất không chỉ đơn thuần bổ sung hiện vật mà còn mở ra con đường xác thực để nhận thức sâu sắc cội nguồn dân tộc. Trước những biến chuyển nhanh chóng của đất nước, ngành khảo cổ đang đứng trước đòi hỏi cấp thiết về việc nâng cao chất lượng nghiên cứu liên ngành và ứng dụng công nghệ hiện đại. Giới chuyên môn nhấn mạnh sự cần thiết của việc xây dựng hệ cơ sở dữ liệu tư liệu chuẩn hóa dài hạn thay vì dừng lại ở phạm vi từng dự án đơn lẻ. Đồng thời, việc gắn kết giữa khai quật, bảo tồn di sản và công bố rộng rãi sẽ ngăn ngừa nguy cơ thất thoát, chuyển hóa kết quả khoa học thành tài sản tri thức của toàn xã hội.
amung