Còn nhiều điểm tái chế rác quy mô lớn
Điện thoại thông minh, máy tính, ti-vi và nhiều thiết bị điện tử thông minh khác ngày càng hiện diện nhiều trong đời sống đô thị. Chúng cũng là một phần của quá trình số hóa mà thành phố đang thúc đẩy trong quản trị và cung cấp các dịch vụ đô thị. Nhưng vòng đời của một thiết bị không kết thúc khi người dùng thay máy mới, chúng trở thành một “dòng” chất thải chứa nhiều vật liệu có thể thu hồi, đồng thời cần được thu gom, tháo dỡ và xử lý phù hợp.
Vấn đề với Hà Nội không chỉ là có bao nhiêu rác điện tử, mà thành phố đang biết gì về dòng rác này và quản lý nó đến đâu. Hiện chưa có trong các nguồn công khai được khảo sát một bộ số liệu cập nhật, đủ độ tin cậy để xác định tổng lượng rác điện tử Hà Nội phát sinh mỗi năm, tỷ lệ được thu gom chính thức hay tỷ lệ được tái chế... Khoảng trống này khiến việc đánh giá quy mô dòng rác, hiệu quả thu gom và khả năng tái chế gặp khó khăn.
Thực tế, Hà Nội đã có bước nhận diện dòng chất thải này trong chính sách. Quyết định 87/2025/QĐ-UBND của UBND thành phố ban hành ngày 29/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 8/1/2026, đưa thiết bị điện, điện tử thải bỏ vào nhóm chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế. Sau đó, với Kế hoạch 52/KH-UBND ngày 6/2/2026, Hà Nội đã đặt vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số và mô hình quản lý thông minh trong vận chuyển, xử lý chất thải, đồng thời cập nhật tích hợp cơ sở dữ liệu quản lý chất thải.
Có thể thấy, Hà Nội đang cố gắng đưa rác thải điện, điện tử vào hệ thống quản lý, với mong muốn kiểm soát dòng vật chất. Nhưng trên thực tế, rác thải điện tử đang được bỏ lẫn rác thải sinh hoạt, sau đó đưa vào hệ thống thu gom rác chung. Chỉ một số ít rác thải được phân loại và bán cho những người thu mua đồng nát.
Hệ quả là vẫn còn nhiều địa điểm tái chế rác thải điện tử quy mô lớn như tại thôn Bảo Lộc (xã Phúc Lộc) và xã Đa Phúc. Tại đây các linh kiện điện tử cũ, điện thoại hỏng, bo mạch, dây cáp được thu gom về hộ gia đình để tháo dỡ thủ công. Những vật liệu có giá trị như đồng, nhôm, sắt được thu hồi, trong khi phần còn lại bị loại bỏ.
Việc xuất hiện các “làng nghề” chuyên xử lý rác thải điện tử cho thấy, một khoảng trống từ chính sách đến nơi thật sự tập kết rác, đồng thời phần nào thể hiện sự “hụt hơi” của chính sách trong vấn đề này.
“Điểm đến” nào cho rác điện tử?
Trong nỗ lực thiết lập dòng thu hồi vật liệu, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm thuộc danh mục tái chế khi đưa sản phẩm ra thị trường Việt Nam (EPR) phải thực hiện trách nhiệm tái chế theo tỷ lệ và quy cách bắt buộc. Với rác điện tử, EPR xác lập trách nhiệm tái chế đối với nhà sản xuất, nhập khẩu.
Thực hiện Nghị định 110/2026, một số doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội đã xây dựng điểm thu nhận thiết bị, như chương trình D Green Go Green của Di Động Việt tại 116 Thái Hà và 3A Lê Thái Tổ, hay các điểm thu hồi của chương trình Việt Nam Tái Chế tại các điểm như Mega Market Thăng Long, Công an phường Hoàn Kiếm, phường Ba Đình.
Tuy nhiên, đây phần lớn là các điểm tự phát của doanh nghiệp. Vẫn còn thiếu hệ thống cho phép theo dõi đầy đủ lượng rác điện tử phát sinh tại từng khu vực, lượng được đưa vào từng kênh thu gom và điểm đến cuối cùng sau khi rời khỏi hộ gia đình.
Thậm chí, có doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu, kinh doanh sản phẩm điện, điện tử đã phản ánh những khó khăn khi thực hiện nghĩa vụ EPR (các công việc pháp lý và tài chính phải kê khai) trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia. Trong đó có tình trạng không đăng nhập được hoặc không tải dữ liệu lên hệ thống. Điều này thể hiện chính sách ban hành đã có, nhưng đang tồn tại nhiều vấn đề chưa theo kịp thực tiễn.
Tháng 4/2026, Panasonic Việt Nam đề xuất xây dựng và duy trì hạ tầng thu gom sản phẩm điện, điện tử sau tiêu dùng, phối hợp với chính quyền các cấp tổ chức điểm thu hồi và tăng cường tuyên truyền để người tiêu dùng chuyển giao thiết bị điện, điện tử thải bỏ. Đề xuất này của Panasonic cho thấy, bên cạnh việc xác định doanh nghiệp phải tái chế bao nhiêu, chính sách EPR còn cần giải quyết cách đưa thiết bị hết vòng đời từ người tiêu dùng vào hệ thống thu gom và tái chế chính thức như thế nào. Những vấn đề trên cho thấy, khoảng cách cần được lấp đầy không chỉ nằm ở chính sách. Đó còn là sự kết nối giữa người dân, điểm thu gom, đơn vị thu gom, doanh nghiệp, cơ sở tái chế và hệ thống dữ liệu quản lý.
Thành phố Hà Nội đã có định hướng đô thị thông minh dựa trên dữ liệu và công nghệ, quy định nhận diện thiết bị điện, điện tử thải bỏ lên nhà sản xuất, nhập khẩu. Nhưng để quản lý được toàn bộ dòng rác điện tử, các mắt xích từ nơi phát sinh đến nơi xử lý cần được kết nối rõ ràng, minh bạch hơn.
HOÀNG PHÚ