Bỏ qua điều hướng

Khôi phục vùng nghêu ở Cù Lao Dung

Khôi phục vùng nghêu ở Cù Lao Dung
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Từng là vùng nghêu tự nhiên trù phú, mang lại sinh kế đáng kể cho người dân ven biển, hiện bãi nghêu Cù Lao Dung, thành phố Cần Thơ đang suy giảm mạnh. Để khôi phục nguồn lợi, địa phương cần những giải pháp mới.

Nguy cơ suy giảm

Bãi nghêu Cù Lao Dung nằm giữa vùng bãi bồi ven biển, cách đất liền hơn 30 km đường thủy. Để tiếp cận khu vực này, các chuyến khảo sát phải tính toán theo con nước, chờ thời điểm thủy triều rút mới có thể thuận lợi vào bãi. Điều kiện tiếp cận khó khăn cũng là một trong những trở ngại đối với công tác quản lý, bảo vệ nguồn lợi tại đây.

Theo ông Nguyễn Văn Đắc, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, địa phương có hơn 16.000 ha bãi bồi, trong đó khu vực bãi nghêu rộng hơn 830 ha. Nền đáy phù hợp, nguồn phù sa dồi dào, độ mặn tương đối ổn định cùng hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển tạo điều kiện thuận lợi cho nghêu sinh trưởng, phát triển.

Tuy nhiên, nguồn lợi từng là thế mạnh của vùng bãi bồi này đang suy giảm rõ rệt. Ông Bùi Thanh Hoàng, người nhiều năm gắn bó với bãi nghêu Cù Lao Dung cho biết, khoảng năm 2008, nghêu giống xuất hiện dồi dào, thu hút thương lái đến thu mua. Có thời điểm, chỉ trong một vụ kéo dài khoảng ba tháng, mỗi hộ có thể thu nhập 50-70 triệu đồng. Với người dân ven biển, đây là khoản thu đáng kể.

Ông Lê Văn Ngót, thương lái nhiều năm thu mua nghêu thương phẩm tại khu vực này cho biết, nghêu từ các bãi bồi Cù Lao Dung từng được vận chuyển đến các tỉnh, thành phố lân cận, các vựa lớn ở miền tây, thậm chí ra Hà Nội phục vụ thị trường phía bắc. Tuy nhiên, sản lượng nay giảm mạnh, thương lái chủ yếu thu mua để cung cấp cho các cơ sở bán lẻ tại địa phương.

Theo ông Hoàng, nguồn lợi tự nhiên không phải vô tận. Việc khai thác quá mức trong thời gian dài đã ảnh hưởng đến khả năng sinh sản tự nhiên của nghêu, khiến sản lượng hiện chỉ còn khoảng 20-30% so với trước. Mỗi người khai thác trung bình chỉ thu được 10-30 kg nghêu thịt/ngày. Trong khi đó, mỗi ngày có khoảng 30-50 người từ khu vực Bãi Giá và các tỉnh lân cận đến khai thác, còn số người dân địa phương trực tiếp tham gia khá ít.

Sự suy giảm nguồn lợi đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương thức khai thác và quản lý. Trước đây, địa phương từng thành lập tổ hợp tác quản lý bãi nghêu, nhưng mô hình dần không còn hiệu quả. Sau đó người dân chuyển sang thành lập nhóm đồng quản lý nhằm hạn chế tình trạng ghe nhỏ khai thác bừa bãi.

Tuy nhiên, nhóm này vẫn thiếu trang thiết bị, cơ sở vật chất, nguồn lực và điều kiện khoa học-kỹ thuật cần thiết. Trong khi đó, bãi nghêu có diện tích rộng, nằm xa đất liền, gây khó khăn cho công tác kiểm tra, kiểm soát.

Ông Đắc cho biết, một trong những vấn đề lớn hiện nay là địa phương chưa đủ điều kiện quản lý, phân vùng và xác định thời gian, độ tuổi nghêu được phép khai thác tại bãi. Đây là những yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với khả năng duy trì nguồn lợi tự nhiên.

Nếu chỉ khai thác nghêu giống, nghêu thịt mà không có khu vực bảo vệ, nhất là không duy trì đủ lượng nghêu bố mẹ, khả năng tái tạo của bãi nghêu sẽ tiếp tục suy giảm. Trong khi giao thông và phương tiện phục vụ quản lý, vận chuyển còn hạn chế, việc kiểm soát vùng bãi rộng hàng trăm héc-ta càng khó khăn. Ngay cả một chuyến khảo sát cũng phải phụ thuộc vào con nước.

Bảo tồn phải gắn với sinh kế

Theo những người trực tiếp khai thác, muốn giữ bãi nghêu lâu dài không thể chỉ yêu cầu bảo vệ mà phải gắn với sinh kế của người dân. Ông Bùi Thanh Hoàng cho rằng chính quyền cần tổ chức quản lý, đồng thời huy động người dân cùng tham gia giữ bãi. Khi thấy rõ lợi ích trực tiếp từ việc bảo vệ nguồn nghêu, người dân sẽ có thêm động lực bảo vệ tài nguyên. Bảo tồn không đồng nghĩa với cấm khai thác hoàn toàn.

Với những hộ nghèo phụ thuộc vào nguồn lợi tự nhiên, nếu thiếu sinh kế thay thế hoặc không được hưởng lợi từ việc giữ bãi, công tác quản lý khó duy trì lâu dài. Vì vậy, cần kết hợp bảo tồn với phát triển kinh tế, hỗ trợ kỹ thuật nuôi nghêu, xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ và nâng cao giá trị sản phẩm.

Ở góc độ quản lý, ông Đắc đề xuất trước hết cần nghiên cứu, khảo sát và đánh giá tổng thể bãi nghêu. Trên cơ sở đó, địa phương xác định mùa vụ, quy luật phân bố và thời điểm nghêu giống xuất hiện để xây dựng lịch khai thác phù hợp; đồng thời phân định rõ khu vực khai thác và khu vực bảo vệ, trong đó ưu tiên bảo vệ nghêu bố mẹ, nguồn duy trì khả năng sinh sản tự nhiên của bãi.

Khi có vùng bảo vệ phù hợp tạo điều kiện cho nghêu bố mẹ sinh sản, nguồn giống tự nhiên sẽ có cơ hội phục hồi, qua đó duy trì hoạt động khai thác lâu dài thay vì khai thác đến cạn kiệt.

Cùng với bảo vệ nguồn lợi, Cù Lao Dung đang tính đến việc xây dựng thương hiệu “Nghêu Cù Lao Dung”. Việc nâng cao giá trị sản phẩm không chỉ giúp tăng hiệu quả kinh tế mà còn tạo thêm động lực để người dân cùng bảo vệ vùng nguyên liệu.

Môi trường bãi nghêu cần được đặt trong tổng thể giải pháp. Trồng, bảo vệ rừng ngập mặn ven biển không chỉ góp phần duy trì hệ sinh thái mà còn giảm sóng, chống sạt lở, tạo lá chắn tự nhiên cho vùng bãi bồi.

Địa phương cần được hỗ trợ xây dựng hệ thống quan trắc, thường xuyên theo dõi độ mặn và các yếu tố môi trường để kịp thời cảnh báo khi điều kiện bất lợi; đồng thời tăng cường tuyên truyền, nâng cao ý thức cộng đồng.

Về lâu dài, vùng bãi bồi rộng lớn cùng hệ sinh thái ven biển và hoạt động khai thác nghêu có thể gắn với phát triển du lịch sinh thái cộng đồng. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết vẫn là phục hồi và duy trì nguồn lợi.

Để bãi nghêu Cù Lao Dung trở lại trù phú, phương thức khai thác cần được thay đổi theo hướng bền vững với cơ chế quản lý phù hợp, phân định rõ khu vực bảo vệ và khai thác dựa trên cơ sở khoa học và có sự tham gia của cộng đồng cùng đầu tư cho hạ tầng và môi trường.

Bài và ảnh: VĂN ÚT

Bãi nghêu Cù Lao Dung nằm giữa vùng bãi bồi ven biển, cách đất liền hơn 30 km đường thủy, từng tạo nguồn sinh kế đáng kể cho người dân địa phương. Trong hơn 16.000 ha bãi bồi của xã, khu vực nghêu rộng trên 830 ha, hội tụ nền đáy phù hợp, phù sa dồi dào, độ mặn tương đối ổn định và hệ sinh thái rừng ngập mặn thuận lợi cho loài nhuyễn thể này phát triển. Khoảng năm 2008, nghêu giống xuất hiện dồi dào, từng giúp mỗi hộ thu nhập 50 đến 70 triệu đồng trong một vụ kéo dài khoảng ba tháng. Nghêu thương phẩm từ Cù Lao Dung khi đó được đưa tới nhiều tỉnh, thành phố lân cận, các vựa lớn ở miền Tây và cả Hà Nội, nhưng hiện sản lượng chỉ còn khoảng 20 đến 30% so với trước. Mỗi người nay chỉ khai thác trung bình 10 đến 30 kg nghêu thịt mỗi ngày, trong khi bãi thường xuyên có khoảng 30 đến 50 người từ khu vực Bãi Giá và các tỉnh lân cận đến khai thác. Nguyên nhân đáng lưu ý là hoạt động khai thác kéo dài nhưng thiếu phân vùng bảo vệ, giới hạn thời gian và quy định về độ tuổi nghêu được phép thu hoạch. Nếu nghêu giống, nghêu thịt tiếp tục bị khai thác mà không duy trì đủ lượng nghêu bố mẹ, khả năng sinh sản và tái tạo tự nhiên sẽ ngày càng suy yếu. Đây không chỉ là bài toán sản lượng, mà còn phản ánh khoảng trống trong quản trị một nguồn lợi chung có nguy cơ cạn kiệt. Tổ hợp tác quản lý bãi nghêu trước đây không còn hiệu quả, còn nhóm đồng quản lý hiện thiếu trang thiết bị, cơ sở vật chất, nguồn lực và hỗ trợ khoa học kỹ thuật. Diện tích rộng, vị trí xa bờ, giao thông hạn chế và việc khảo sát phụ thuộc thủy triều khiến công tác kiểm tra, kiểm soát thêm khó khăn. Khôi phục bãi nghêu vì vậy cần bắt đầu từ phân vùng khai thác, thiết lập khu vực bảo vệ nghêu bố mẹ và củng cố năng lực đồng quản lý, qua đó cân bằng sinh kế trước mắt với khả năng tái tạo lâu dài của hệ sinh thái.