Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) vừa công bố, trong 8 tháng qua, nhóm hàng tư liệu sản xuất tiếp tục chiếm tỷ trọng áp đảo trong cơ cấu nhập khẩu, đạt 372,04 tỷ USD, tương đương 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa.
Trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 57,6%, còn nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 36,5%. Như vậy, phần lớn hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam không phải để phục vụ tiêu dùng cuối cùng mà là các yếu tố đầu vào của hoạt động sản xuất.
TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, cho rằng đây là tín hiệu tương đối tích cực đối với nền kinh tế. Theo ông, việc máy móc, linh kiện, nguyên phụ liệu phục vụ các ngành dệt may, da giày, điện tử, nội thất... chiếm khoảng 94% tổng kim ngạch nhập khẩu phản ánh nhu cầu lớn về nguyên liệu và thiết bị phục vụ sản xuất.
Trong bối cảnh công nghiệp hỗ trợ trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu của các ngành chế biến, chế tạo quy mô lớn, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp FDI, vẫn phải nhập khẩu đáng kể linh kiện, máy móc và nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu.
Theo ông, mức nhập siêu hiện nay chủ yếu đến từ việc nhập khẩu đầu vào cho sản xuất, qua đó góp phần mở rộng năng lực sản xuất và tạo nền tảng cho tăng trưởng. Đây cũng có thể được xem là bước chuẩn bị cho một chu kỳ xuất khẩu mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.
Cùng quan điểm, chia sẻ với phóng viên Dân trí, TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách, cũng cho rằng nhập siêu cao hiện nay chủ yếu xuất phát từ việc nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu.
Ông chỉ ra 3 nguyên nhân chính. Thứ nhất, doanh nghiệp tăng nhập khẩu để "tích trữ" trong bối cảnh nhiều rủi ro, bất định, chuỗi cung ứng bị gián đoạn và chi phí tăng. Thứ hai, giá hàng hóa nhập khẩu, nhất là công nghệ cao và năng lượng, tăng. Thứ ba, nhiều dự án công nghệ cao, dự án lớn được triển khai khiến nhu cầu nhập khẩu trang thiết bị, vật liệu tăng nhanh.
"Ở chiều ngược lại, điểm tích cực là doanh nghiệp chủ động thích ứng, nhập khẩu chủ yếu là tư liệu sản xuất, chiếm tới 94,1% kim ngạch nhập khẩu hàng hóa. Do đó, đà nhập siêu sẽ giảm dần khi doanh nghiệp dùng hàng tích trữ thay cho nhập khẩu một phần", TS Lực nói.
Theo chuyên gia này, xét về bản chất, nhập siêu không đồng nghĩa nền kinh tế yếu đi hay làm suy giảm tăng trưởng. Đây có thể chỉ là sự hạch toán "tạm thời" phần đầu tư vượt quá tiết kiệm quốc gia. Tăng nhập khẩu tư liệu sản xuất sẽ góp phần nâng cao năng lực sản xuất và xuất khẩu sau đó.
Tuy nhiên, TS Lực lưu ý nhập siêu cao và kéo dài vẫn là vấn đề cần quan tâm bởi nó cho thấy năng lực của doanh nghiệp trong nước còn yếu, mức độ tự chủ thấp, đồng thời tạo thêm áp lực lên tỷ giá và thị trường ngoại hối...
Ở một góc nhìn khác, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, cho rằng mức nhập siêu hơn 20 tỷ USD cần được nhìn từ cơ cấu và mục đích gia tăng nhập khẩu.
Theo ông, bên cạnh tác động từ giá hàng hóa quốc tế, dòng vốn FDI vào lĩnh vực sản xuất, chế biến, chế tạo kéo theo nhu cầu lớn về máy móc, thiết bị, linh kiện và nguyên vật liệu. Đáng chú ý, doanh nghiệp cũng có xu hướng tăng nhập khẩu để chuẩn bị nguyên liệu và hàng hóa cho chu kỳ sản xuất cuối năm, khi nhu cầu tại các thị trường xuất khẩu thường tăng trước Giáng sinh, năm mới và các mùa mua sắm.

Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tại Cảng Cát Lái - TPHCM (Ảnh: Hải Long).
Theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, nhập siêu hiện nay không nhất thiết phản ánh sự suy yếu của cán cân thương mại mà có thể là kết quả của việc doanh nghiệp chủ động tích trữ đầu vào để đáp ứng đơn hàng trong những tháng cuối năm.
"Chúng ta cũng không nên quá lo ngại về con số nhập siêu này", ông nói và cho rằng nhập khẩu tư liệu sản xuất có thể tạo "bộ đệm" cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu. Tuy nhiên, ông lưu ý diễn biến này đồng thời cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc đáng kể vào chuỗi cung ứng bên ngoài, trong khi chi phí vận tải, bảo hiểm và các yếu tố bất định của thương mại quốc tế có thể tiếp tục tác động đến giá thành hàng nhập khẩu.
Ngành điện tử nhập siêu 60,5 tỷ USD: Giá trị ở lại Việt Nam bao nhiêu?
Nếu nhìn vào từng nhóm hàng, nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện cho thấy rõ bài toán về giá trị gia tăng trong hoạt động xuất nhập khẩu hiện nay. Trong 8 tháng đầu năm, xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt khoảng 101 tỷ USD, tăng 51,1% so với cùng kỳ. Trong khi đó, nhập khẩu nhóm hàng này đạt 161,6 tỷ USD, tăng tới 68,3%, tương ứng nhập siêu khoảng 60,5 tỷ USD.
Theo Bộ Công Thương, phần lớn kim ngạch nhập khẩu nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là chip, bộ nhớ, bộ xử lý, màn hình, bảng mạch và các đầu vào phục vụ sản xuất, lắp ráp, đóng gói, kiểm thử, tích hợp sản phẩm để xuất khẩu.
Điều này cho thấy hoạt động nhập khẩu sản phẩm, linh kiện điện tử lớn đang gắn chặt với sự mở rộng của hoạt động sản xuất điện tử tại Việt Nam. Nhu cầu toàn cầu đối với trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu, máy chủ và các thiết bị điện tử tiếp tục tăng cũng mở ra cơ hội để Việt Nam mở rộng sản xuất và thu hút thêm đầu tư.
Tuy nhiên, theo đánh giá của cơ quan quản lý, mặt trái là ngành điện tử vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn cung linh kiện, bán dẫn, thiết bị và nguyên vật liệu công nghệ cao từ nước ngoài, trong khi giá trị gia tăng tạo ra trong nước còn hạn chế.
Nói cách khác, nhập khẩu lớn có thể là "nhiên liệu" cho xuất khẩu, nhưng điều quan trọng là Việt Nam phải ngày càng tạo ra nhiều giá trị hơn từ lượng nguyên liệu, linh kiện và thiết bị nhập khẩu đó.
Theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, việc khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu lớn trong khi khu vực FDI tiếp tục xuất siêu cho thấy sự khác biệt đáng kể về vị trí của hai khu vực trong chuỗi cung ứng, đồng thời phản ánh mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp Việt Nam vào nguồn đầu vào từ bên ngoài. Nhiều ngành sản xuất trong nước vẫn phụ thuộc vào nguyên liệu, năng lượng, linh kiện và máy móc nhập khẩu.

"Đáng chú ý, ngay cả những lĩnh vực phục vụ sản xuất hàng tiêu dùng, doanh nghiệp trong nước cũng phải nhập khẩu đáng kể từ linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu đến một số sản phẩm đầu vào. Với những ngành chưa sản xuất được hoặc chi phí sản xuất trong nước cao hơn đáng kể, nhập khẩu vẫn là lựa chọn cần thiết", ông nói.
Theo vị chuyên gia, thực tế này cho thấy bài toán nội địa hóa không chỉ nằm ở việc giảm nhập khẩu, mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực sản xuất trong nước để từng bước thay thế các đầu vào nhập khẩu, đặc biệt ở những khâu có giá trị gia tăng cao. Khi doanh nghiệp Việt Nam có thể đảm nhận nhiều hơn các công đoạn trong chuỗi sản xuất, mức độ tham gia và phần giá trị giữ lại trong nước sẽ được cải thiện.
Không thể giảm nhập siêu bằng cách hạn chế nhập khẩu
TS Đỗ Thiên Anh Tuấn, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, cho rằng Việt Nam cần tiếp tục xử lý các nguyên nhân cơ cấu của nhập siêu bằng cách nâng cao sức cạnh tranh của khu vực kinh tế trong nước, nhất là khu vực kinh tế tư nhân.
Theo ông, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cần tập trung vào khả năng tiếp cận thị trường, duy trì đơn hàng, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn xanh, chuyển đổi số, xúc tiến thương mại, đồng thời tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là thúc đẩy nội địa hóa chuỗi cung ứng và phát triển các cấu phần thượng nguồn có giá trị gia tăng cao. Việt Nam cần phát triển nhà cung ứng trong nước, công nghiệp hỗ trợ, vật liệu, linh kiện, thiết bị, hóa chất và năng lượng.
"Thu hút FDI giai đoạn tới cần ưu tiên chất lượng liên kết, chuyển giao công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa và cam kết kéo doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng. Với doanh nghiệp trong nước, cần phải có doanh nghiệp lớn tự tạo chuỗi cung ứng, có thị trường lớn rồi quay về hợp tác, tạo cơ hội cho doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi. Khi đó khu vực doanh nghiệp trong nước mới mạnh lên được", TS Tuấn nói.

Theo chuyên gia, Việt Nam cần phát triển nhà cung ứng trong nước, công nghiệp hỗ trợ, vật liệu, linh kiện, thiết bị, hóa chất và năng lượng (Ảnh: Thương Huyền).
Tại cuộc làm việc ngày 8/9, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đã giao Bộ Công Thương phối hợp với các bộ, ngành, địa phương làm việc với những doanh nghiệp có chênh lệch lớn giữa kim ngạch nhập khẩu và xuất khẩu, nhất là doanh nghiệp nhập siêu lớn.
Theo Phó Thủ tướng, cơ quan quản lý cần làm rõ cơ cấu, mục đích nhập khẩu cũng như mức độ phục vụ sản xuất, xuất khẩu của các doanh nghiệp này để có giải pháp phù hợp, thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu. Việc rà soát nhằm cùng doanh nghiệp tìm giải pháp, không can thiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Yêu cầu trên được đưa ra trong bối cảnh nhập khẩu của ngành điện tử tăng mạnh. Phó Thủ tướng cho rằng sản xuất và xuất khẩu tiếp tục là những động lực tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế. Song, giá trị nhập khẩu linh kiện, nguyên vật liệu và thiết bị đầu vào lớn hơn nhiều so với xuất khẩu cùng kỳ ở một số nhóm hàng, doanh nghiệp cho thấy nhiều ngành vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn cung nước ngoài, trong khi giá trị gia tăng nội địa còn hạn chế.
Do đó, mục tiêu không phải là hạn chế nhập khẩu bằng mọi giá, mà phải gắn dòng nhập khẩu với việc nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
Với các doanh nghiệp điện tử, bán dẫn, nhất là những đơn vị có kim ngạch xuất khẩu lớn, Phó Thủ tướng đề nghị xây dựng kế hoạch cụ thể về nội địa hóa sản phẩm, linh kiện, vật liệu và các công đoạn sản xuất. Các doanh nghiệp FDI được đề nghị mở rộng mạng lưới nhà cung cấp nội địa, chia sẻ tiêu chuẩn, quy trình để doanh nghiệp Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Doanh nghiệp trong nước cần tiếp tục nâng cao năng lực công nghệ, quản trị chất lượng, tự động hóa, chuyển đổi số, R&D (nghiên cứu và phát triển) và nhân lực; từng bước chuyển từ công đoạn có giá trị gia tăng thấp sang sản xuất linh kiện, vật liệu và các khâu có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng cao.
Đáng chú ý, Phó Thủ tướng nhấn mạnh mục tiêu nội địa hóa phải gắn với năng lực thực tế của doanh nghiệp Việt Nam, không thể áp đặt bằng biện pháp hành chính khi doanh nghiệp trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu.
Thay vào đó, lãnh đạo Chính phủ cho rằng cần phát triển công nghiệp hỗ trợ phù hợp với nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp FDI, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực và tham gia vào chuỗi cung ứng.
Cơ hội lớn, nhưng doanh nghiệp Việt phải đủ sức hấp thụ
Nhìn ở góc độ doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng trong nền kinh tế, chuyên gia kinh tế, TS Huỳnh Thế Du, cho rằng với bối cảnh hiện tại khi cả nước đẩy mạnh phát triển đồng thời hạ tầng quy mô lớn, xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế, khu thương mại tự do và các không gian kinh tế mới mở ra cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia ở những khâu có giá trị gia tăng cao hơn.
Ở góc độ tích cực, doanh nghiệp Việt có thể mở rộng vai trò từ nhà thầu xây dựng hoặc nhà cung ứng đơn thuần sang nhà đầu tư dự án, nhà phát triển hạ tầng, doanh nghiệp logistics, công nghệ tài chính, quản lý chuỗi cung ứng hoặc cung cấp các dịch vụ chuyên môn như tư vấn, kiểm toán và quản lý tài sản. Việc tiếp cận gần hơn với các quỹ đầu tư quốc tế và thị trường vốn cũng giúp doanh nghiệp đa dạng hóa nguồn tài trợ cho tăng trưởng.
Tuy nhiên, cơ hội không tự động chuyển thành lợi ích. Thực tế, khi thị trường mở cửa mạnh hơn, doanh nghiệp trong nước cũng phải cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn quốc tế có ưu thế về vốn, công nghệ, quản trị và mạng lưới khách hàng toàn cầu.
Theo TS Du, thách thức lớn nhất đối với doanh nghiệp Việt Nam có lẽ không phải là thiếu cơ hội mà là năng lực hấp thụ cơ hội. Những doanh nghiệp có khả năng đổi mới công nghệ, quản trị theo chuẩn quốc tế, minh bạch tài chính và tham gia sâu vào các mạng lưới hợp tác toàn cầu sẽ hưởng lợi nhiều nhất. Ngược lại, các doanh nghiệp chậm chuyển đổi có thể tiếp tục chỉ đảm nhận các khâu giá trị thấp trong chuỗi cung ứng.