Bỏ qua điều hướng

Kỷ lục 770 tỷ USD xuất nhập khẩu: Đằng sau con số nhập siêu hơn 20 tỷ USD

Kỷ lục 770 tỷ USD xuất nhập khẩu: Đằng sau con số nhập siêu hơn 20 tỷ USD
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Nền kinh tế có hàm lượng nhập khẩu rất lớn trong sản xuất và xuất khẩu, cho thấy công nghiệp hỗ trợ, tỷ lệ nội địa hóa chưa theo kịp tốc độ mở rộng sản xuất.

Kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước sau 8 tháng đạt hơn 770 tỷ USD là cột mốc kỷ lục, nhưng nhập siêu cũng lên tới 20,46 tỷ USD. TS Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên trường Chính sách công và quản lý Fulbright, phân tích chi tiết những nguyên nhân và các kịch bản thu hẹp nhập siêu từ nay tới cuối năm.

5 nguyên nhân gây nhập siêu

Nguyên nhân trực tiếp là nhập khẩu tăng tới 35,3%, nhanh hơn rất nhiều so với xuất khẩu tăng 22,4%. Theo TS Tuấn, có thể quy về 5 nguyên nhân chính.

Đầu tư trong nước tăng nhanh, kéo nhập khẩu tư liệu sản xuất lên cao. Vốn đầu tư công thực hiện 8 tháng tăng 18,5%, FDI thực hiện tăng 12%, còn FDI đăng ký tăng tới 55,4%. Các doanh nghiệp FDI đầu tư nhà máy, cơ sở hạ tầng, điện tử, công nghiệp chế biến tăng nhanh, phải nhập nhiều máy móc, thiết bị và linh kiện.

Sản xuất công nghiệp tăng nhanh nhưng phụ thuộc đầu vào nhập khẩu. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 8 tháng tăng 11,9%, mức cao nhất trong nhiều năm. Cấu trúc sản xuất của Việt Nam, đặc biệt điện tử, máy tính, cơ khí và các ngành FDI, vẫn có tỷ lệ nhập linh kiện và nguyên liệu rất cao. Vì vậy, muốn tăng sản lượng và xuất khẩu thì trước đó hoặc đồng thời phải tăng nhập khẩu đầu vào.

Kỷ lục 770 tỷ USD xuất nhập khẩu: Đằng sau con số nhập siêu hơn 20 tỷ USD - 1

Việt Nam nhập siêu hơn 20 tỷ USD trong 8 tháng đầu năm (Ảnh: DT).

Điện tử và công nghệ là nguồn nhập siêu lớn nhất. Riêng nhóm điện tử, máy tính và linh kiện nhập siêu tới 60,6 tỷ USD trong 8 tháng. Đây là con số rất đáng chú ý. Một phần lớn nhập siêu thực chất nằm trong chuỗi sản xuất điện tử và công nghệ chứ không phải nhập hàng tiêu dùng.

Nhu cầu năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào tăng. Các nhóm nhập siêu lớn gồm xăng dầu 7,4 tỷ USD, chất dẻo 6,7 tỷ USD, than 6,2 tỷ USD, dầu thô 5,3 tỷ USD, hóa chất và sản phẩm hóa chất khoảng 7,8 tỷ USD. Đây đều là đầu vào của sản xuất, điện, vận tải, hóa dầu và công nghiệp chế biến.

Khu vực doanh nghiệp trong nước yếu hơn rõ rệt về năng lực xuất khẩu. Trong 8 tháng, khu vực trong nước xuất khẩu chỉ 74,47 tỷ USD, tăng 7,4%, trong khi khu vực FDI xuất khẩu 300,37 tỷ USD, tăng 26,9%.

Khu vực trong nước nhập siêu tới 30,6 tỷ USD, trong khi FDI vẫn xuất siêu 10,14 tỷ USD. Vì vậy, nhập siêu hiện nay cũng phản ánh một vấn đề cơ cấu đó là doanh nghiệp Việt Nam nhập nhiều nhưng khả năng tạo hàng xuất khẩu để bù lại còn yếu.

Nhập siêu "lành mạnh"

"Có thể chia nhập siêu thành hai phần", TS Đỗ Thiên Anh Tuấn nhìn nhận. Phần tạm gọi là “lành mạnh” là nhập máy móc, linh kiện, nguyên liệu để phục vụ một chu kỳ tăng đầu tư và sản xuất. Việt Nam đang đẩy mục tiêu tăng trưởng lên hai con số, đầu tư công và FDI cùng tăng, nên đầu tư tăng nhanh sẽ kéo nhập khẩu tăng theo. Về mặt vĩ mô, đây gần như là hệ quả tự nhiên của chiến lược tăng tỷ lệ đầu tư lên cao so với tiết kiệm quốc gia.

Có điều, phần đáng lo là nền kinh tế vẫn có hàm lượng nhập khẩu rất lớn trong sản xuất và xuất khẩu. Nếu nhập khẩu tăng 35% nhưng năng lực sản xuất trong nước và xuất khẩu chỉ tăng hơn 20%, phần tăng đầu tư có thể nhanh chóng chuyển thành cầu ngoại tệ và nhập siêu. Điều này cho thấy công nghiệp hỗ trợ và tỷ lệ nội địa hóa chưa theo kịp tốc độ mở rộng sản xuất. Đây là vấn đề cơ cấu của nền kinh tế.

Ngoài những nguyên nhân trực tiếp trên, còn nguyên nhân sâu xa hơn. Làn sóng đầu tư vào điện tử, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và trung tâm dữ liệu làm tăng cường độ nhập khẩu của đầu tư.

“Một đồng đầu tư vào các ngành này tạo nhu cầu nhập khẩu lớn hơn nhiều so với đầu tư vào dịch vụ hoặc xây dựng thông thường. Do Việt Nam chưa sản xuất được phần lớn chip, máy chủ, thiết bị quang học, thiết bị sản xuất bán dẫn, linh kiện điện tử cao cấp. Vì thế, cùng một mức tăng đầu tư nhưng cơ cấu đầu tư năm nay có thể tạo nhập khẩu lớn hơn trước”, TS Tuấn nói.

Doanh nghiệp có thể đang tích trữ nguyên liệu và linh kiện để phòng ngừa bất định thương mại và chuỗi cung ứng. Đây là điều rất quan trọng. Trong môi trường thuế quan, kiểm soát xuất xứ và địa chính trị biến động như vừa qua, doanh nghiệp có động cơ tăng tồn kho an toàn.

Tăng trưởng xuất khẩu cao nhưng bản thân xuất khẩu cũng kéo nhập khẩu lên. Đây là điểm khá nghịch lý. Vì nhiều ngành xuất khẩu chủ lực có hàm lượng nhập khẩu cao, nên khi đơn hàng xuất khẩu tăng, doanh nghiệp phải nhập linh kiện và nguyên liệu trước với tốc độ tương đương hoặc thậm chí cao hơn.

 Ngoài ra, cũng có thể đang xuất hiện vấn đề về chất lượng của tăng trưởng FDI. Con số rất đáng chú ý là khu vực FDI nhập khẩu tăng 40,1% nhưng xuất khẩu chỉ tăng 26,9%. “Nếu hiện tượng này chỉ xảy ra một thời gian ngắn vì đang nhập thiết bị để mở rộng nhà máy thì không đáng lo. Nhưng nếu kéo dài, nó có thể cho thấy FDI mới vẫn thiên về gia công, lắp ráp, phụ thuộc đầu vào nhập khẩu, thay vì hình thành chuỗi cung ứng trong nước”, ông Tuấn nêu.

Kịch bản thu hẹp nhập siêu những tháng cuối năm

Theo TS Tuấn, có khả năng thu hẹp thâm hụt khá rõ trong những tháng cuối năm. Nhưng việc đảo ngược hoàn toàn 20,46 tỷ USD nhập siêu lũy kế để trở lại xuất siêu cả năm là không cao.

Dấu hiệu quan trọng nhất đã xuất hiện ngay trong tháng 8. Tháng 7, Việt Nam nhập siêu khoảng 3,59 tỷ USD. Sang tháng 8, nhập siêu chỉ còn 0,12 tỷ USD. Nếu tính riêng cán cân thương mại theo tháng đã gần trở lại trạng thái cân bằng.

Với xu hướng này, khả năng nhập siêu sẽ thu hẹp trong quý IV vì một số lý do.

Thứ nhất, có độ trễ giữa nhập khẩu và xuất khẩu. Nửa đầu năm doanh nghiệp nhập rất mạnh máy móc, linh kiện và nguyên liệu. Tư liệu sản xuất hiện chiếm tới 94,1% nhập khẩu. Một phần số hàng này sẽ chuyển thành sản phẩm cuối cùng và xuất khẩu trong các tháng sau.

Kỷ lục 770 tỷ USD xuất nhập khẩu: Đằng sau con số nhập siêu hơn 20 tỷ USD - 2

Sản xuất thiết bị điện tử tại nhà máy Samsung ở Việt Nam (Ảnh: Lam Giang).

Thứ hai, tốc độ xuất khẩu đang có dấu hiệu tăng nhanh dần. Riêng tháng 8 tăng tới 26% so với cùng kỳ, còn nhập khẩu tháng 8 giảm 3,1% so với tháng 7, dù vẫn rất cao so với cùng kỳ. Đây là tín hiệu cho thấy nhập khẩu đầu vào của những tháng trước có thể đang chậm lại.

Thứ ba, quý IV thường là thời điểm xuất khẩu hàng chế biến chế tạo tăng mạnh để phục vụ mùa mua sắm cuối năm tại Mỹ, châu Âu và các thị trường lớn. Điều này đặc biệt quan trọng vì hàng công nghiệp chế biến hiện chiếm tới 90,2% xuất khẩu Việt Nam.

Tuy nhiên, có một điểm không nên kỳ vọng Việt Nam nhanh chóng quay lại xuất siêu lớn bởi khoảng cách tăng trưởng giữa nhập khẩu và xuất khẩu vẫn rất rộng. Chỉ tính riêng tháng 8, xuất khẩu tăng 26% nhưng nhập khẩu vẫn tăng 37,9% so với cùng kỳ. Cân bằng thương mại đã có tín hiệu rất tích cực nhưng chưa đủ để khẳng định xu hướng đảo chiều.

“Kịch bản hợp lý nhất hiện nay là cán cân thương mại theo tháng có khả năng từ nhập siêu lớn chuyển sang gần cân bằng hoặc xuất siêu trong một vài tháng cuối năm. Nhập siêu lũy kế sẽ thu hẹp tương đối nhưng Việt Nam nhiều khả năng vẫn kết thúc năm nay với nhập siêu. Đây là diễn biến khá phù hợp với nền kinh tế đang bước vào chu kỳ đầu tư mạnh theo định hướng của Chính phủ”, chuyên gia Fulbright nhận định.

Sau 8 tháng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam vượt 770 tỷ USD, thiết lập kỷ lục mới nhưng đồng thời ghi nhận mức nhập siêu 20,46 tỷ USD. Theo phân tích của TS Đỗ Thiên Anh Tuấn, giảng viên Trường Chính sách công và quản lý Fulbright, khoảng cách này xuất phát từ nhiều nguyên nhân liên quan đến đầu tư, sản xuất và cơ cấu doanh nghiệp. Điểm đáng chú ý là nhập khẩu tăng 35,3%, nhanh hơn đáng kể so với mức tăng 22,4% của xuất khẩu, khiến cán cân thương mại chuyển sang trạng thái nhập siêu lớn. Nguyên nhân đầu tiên nằm ở tốc độ gia tăng đầu tư trong nước, khi vốn đầu tư công thực hiện tám tháng tăng 18,5%, còn vốn FDI thực hiện tăng 12%. Đáng chú ý hơn, vốn FDI đăng ký tăng tới 55,4%, phản ánh làn sóng mở rộng nhà máy, cơ sở hạ tầng, sản xuất điện tử và công nghiệp chế biến tại Việt Nam. Những dự án này cần lượng lớn máy móc, thiết bị, linh kiện cùng nguyên vật liệu nhập khẩu, nên đầu tư tăng nhanh lập tức tạo áp lực lớn lên kim ngạch nhập khẩu. Sản xuất công nghiệp cũng tăng mạnh, với chỉ số sản xuất công nghiệp tám tháng tăng 11,9%, mức cao nhất trong nhiều năm, nhưng nền sản xuất vẫn phụ thuộc đáng kể vào đầu vào bên ngoài. Đặc biệt, các lĩnh vực điện tử, máy tính, cơ khí và nhiều ngành có vốn FDI đang sử dụng tỷ lệ linh kiện, nguyên liệu nhập khẩu rất cao để duy trì sản lượng. Nhóm điện tử, máy tính và linh kiện tạo ra khoản nhập siêu lớn nhất, lên tới 60,6 tỷ USD trong tám tháng, một con số vượt xa nhiều nhóm hàng khác. Tuy nhiên, TS Đỗ Thiên Anh Tuấn lưu ý rằng phần lớn khoản nhập siêu này không đến từ hàng tiêu dùng, mà gắn với chuỗi sản xuất công nghệ và điện tử. Nói cách khác, Việt Nam đang nhập nhiều để sản xuất, lắp ráp rồi xuất khẩu, nhưng giá trị nội địa tạo ra trong từng sản phẩm vẫn chưa đủ lớn để cân bằng đầu vào. Nhu cầu năng lượng và nguyên vật liệu tăng cũng góp phần mở rộng nhập siêu, trong đó xăng dầu đạt 7,4 tỷ USD, chất dẻo 6,7 tỷ USD và than 6,2 tỷ USD. Dầu thô nhập siêu 5,3 tỷ USD, còn hóa chất cùng sản phẩm hóa chất khoảng 7,8 tỷ USD, đều là những đầu vào quan trọng của điện, vận tải, hóa dầu và công nghiệp chế biến. Bức tranh doanh nghiệp cho thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa khu vực trong nước và khu vực FDI về năng lực tạo hàng xuất khẩu trong tám tháng đầu năm. Doanh nghiệp trong nước xuất khẩu 74,47 tỷ USD, chỉ tăng 7,4%, trong khi khu vực FDI xuất khẩu 300,37 tỷ USD, tăng mạnh 26,9%. Khu vực trong nước nhập siêu tới 30,6 tỷ USD, trái ngược với khu vực FDI, vốn vẫn xuất siêu 10,14 tỷ USD trong cùng giai đoạn. Theo nhận định được Dân Trí dẫn lại, nhập siêu hiện nay phản ánh vấn đề cơ cấu, khi doanh nghiệp Việt Nam nhập nhiều nhưng khả năng tạo hàng xuất khẩu bù đắp còn hạn chế. TS Tuấn cho rằng có thể chia nhập siêu thành hai phần, trong đó phần “lành mạnh” gồm máy móc, linh kiện và nguyên liệu phục vụ chu kỳ đầu tư, sản xuất mới. Khi Việt Nam theo đuổi mục tiêu tăng trưởng hai con số, đồng thời thúc đẩy đầu tư công và FDI, việc đầu tư tăng kéo nhập khẩu tăng được xem là hệ quả gần như tự nhiên. Về bản chất vĩ mô, tình trạng này liên quan đến việc nền kinh tế nâng tỷ lệ đầu tư lên mức cao hơn so với khả năng tiết kiệm quốc gia trong từng thời kỳ. Phần đáng lo nằm ở hàm lượng nhập khẩu lớn trong sản xuất và xuất khẩu, bởi nhập khẩu tăng 35% nhưng năng lực sản xuất trong nước cùng xuất khẩu chỉ tăng hơn 20%. Nếu xu hướng này kéo dài, phần tăng đầu tư có thể nhanh chóng chuyển thành nhu cầu ngoại tệ và nhập siêu, thay vì tạo ra năng lực nội địa tương xứng. Làn sóng đầu tư vào điện tử, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và trung tâm dữ liệu càng làm cường độ nhập khẩu cao hơn, vì Việt Nam chưa sản xuất được phần lớn chip, máy chủ, thiết bị quang học cùng linh kiện cao cấp.