Bỏ qua điều hướng
•

Lá chắn thép của cảnh vệ: Bảo vệ phóng viên chiến trường

Lá chắn thép của cảnh vệ: Bảo vệ phóng viên chiến trường
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Khi tìm tư liệu về truyền thống Phòng Cảnh vệ miền Nam, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Bộ Công an nhân kỷ niệm 70 năm ngày thành lập đơn vị (18.10.1956 - 18.10.2026), PV Thanh Niên có dịp trò chuyện cùng đại tá Nguyễn Phong Giang (81 tuổi, nguyên cán bộ Đoàn 180 an ninh vũ trang miền Nam).

Khi được hỏi về Đoàn 180 an ninh vũ trang miền Nam (viết tắt Đoàn 180, tiền thân của Phòng Cảnh vệ miền Nam) và những kỷ niệm trong thời gian trực tiếp cầm súng chiến đấu tại chiến trường miền Đông Nam bộ, đôi mắt người cựu chiến binh ánh lên nét tự hào. Ông bảo: "Nhiều chuyện lắm nhưng giờ già rồi, khó kể chi tiết rành rọt lắm. Chỉ chắc chắn một điều là hồi đó gian khổ, ác liệt lắm. Nhưng gian khổ, ác liệt mà vui, bạn bè thủy chung, trọn vẹn. Những người như chúng tôi đã cùng đi qua những năm tháng chiến tranh, cùng sát cánh, sống chết bên nhau chống kẻ thù xâm lược một thời và hiểu giá trị sâu sắc của tình đồng chí, đồng đội".

Lá chắn thép của cảnh vệ: Bảo vệ phóng viên chiến trường  - Ảnh 1.

Ở tuổi 81, đại tá Nguyễn Phong Giang vẫn cần mẫn viết, sưu tầm tư liệu về Đoàn 180

Ảnh: Hải Đường

BẮN CHÁY 2 XE THIẾT GIÁP

Đại tá Nguyễn Phong Giang là một trong những người có công rất lớn trong việc ghi chép, sưu tầm tư liệu về Đoàn 180 và được ví như là "cuốn tư liệu sống" của đơn vị.

Kể về những tháng ngày hành quân theo đoàn giao liên về R (căn cứ T.Ư Cục miền Nam tại rừng Chàng Riệc, tỉnh Tây Ninh cũ) nhận nhiệm vụ, ông cho biết sau một năm tòng quân, đầu năm 1965, chiến sĩ Nguyễn Phong Giang (quê Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp) được cấp trên chọn đi học "điện đài" ở miền Đông. Đó là lần đầu tiên ông Giang xa nhà, xa quê để đến một vùng đất mới. Trên đường hành quân đến trạm B11 thuộc H.Đức Huệ, Long An cũ, đoàn tạm nghỉ chân chờ ngày tiếp tục lên đường, ông Giang đã gặp Phạm Văn Hùng và Huỳnh Công Trứ cùng quê Đồng Tháp, cùng học chung lớp đang chờ chuyển giao liên về R.

Lá chắn thép của cảnh vệ: Bảo vệ phóng viên chiến trường  - Ảnh 2.
Lá chắn thép của cảnh vệ: Bảo vệ phóng viên chiến trường  - Ảnh 3.

Cán bộ chiến sĩ Đoàn 180 họp bàn kế hoạch (ảnh trái) và đào địa đạo bảo vệ căn cứ T.Ư Cục

Ảnh: T.L

Đều là những chàng trai từ miền sông nước Cửu Long lần đầu lên rừng núi miền Đông với bao nhiêu bỡ ngỡ, cùng đối mặt với bao nhiêu nguy hiểm rình rập, các chiến sĩ luôn sát cánh bên nhau với tinh thần trách nhiệm và nhiệt huyết cao nhất của tuổi trẻ. Đại tá Nguyễn Phong Giang kể: "Trong 3 anh em, Trứ có dáng vẻ thư sinh nhất, nhưng khi ra chiến trường, dáng vẻ thư sinh nó bay đâu mất, thay vào đó là sự lăn xả, dũng cảm quên mình. Đầu năm 1966, Trứ được T.Ư Cục chọn đưa ra bổ sung cho quân chủ lực miền, tức Công trường 9 (Sư đoàn 9) - Sư đoàn bộ binh chủ lực cơ động đầu tiên của Quân giải phóng miền Nam. Trong trận càn Attleboro, đối phương tập trung xe tăng, bộ binh càn vào vùng Tam giác sắt. Trong một trận giao tranh, Trứ dùng B40 bắn cháy 2 xe thiết giáp M113. Anh đã bắn đến quả đạn cuối cùng và dũng cảm hy sinh tại trận địa".

Sau khi Huỳnh Công Trứ hy sinh, ông Giang cùng ông Hùng tiếp tục sát cánh trong nhiều trận đánh. Năm 1968, ông Giang bị thương; rồi theo sự phân công, điều động của tổ chức, 2 anh em mỗi người về 1 đơn vị khác nhau. "Cứ tưởng sẽ có ngày gặp lại nhưng sự ác liệt của cuộc chiến đã không cho chúng tôi có cơ hội đó", đại tá Giang ngậm ngùi chia sẻ.

Tháng 9.1968, khi đại tá Giang đang ở căn cứ chuẩn bị cho trận đánh "khuấy nhão rút cùi" của căn cứ Thiện Ngôn, thì nhận thư của ông Hùng gửi. Trong thư có đoạn viết: "Nhớ ngày nào anh, Trứ cùng em lên rừng sống bên nhau. Năm 1966, Trứ ra đơn vị chủ lực và hy sinh. Anh bị thương rồi trở lại R. Bây giờ còn em ở đây nơi chiến trường Tây Ninh gian khổ, ác liệt lắm anh à. Nhưng em hứa sẽ quyết tâm chiến đấu lập nhiều thành tích...".

"Khi lá thư của Hùng đến tay tôi thì Hùng cũng vào trận đánh Giăng Bòn Bon và hy sinh ở đó", đại tá Giang ngậm ngùi kể.

TUYẾN ĐẦU BẢO VỆ BÌNH YÊN CHO TỔ QUỐC

Sau những kỷ niệm không thể nào quên về đồng đội, đại tá Giang còn kể chuyện bảo vệ 2 phóng viên chiến trường người Trung Quốc tác nghiệp tại khu căn cứ hồi cuối năm 1965. Thời điểm đó, sau vài ngày làm việc với các cơ quan tại căn cứ R, 2 phóng viên Lâm Phấn và Trần Hưng đề nghị và được chấp nhận trực tiếp ghi hình các trận đánh của chủ lực ta. Đại tá Giang cùng 2 đồng đội được giao nhiệm vụ đưa đón và bảo vệ 2 phóng viên nước bạn suốt hành trình.

Lần đầu thực hiện nhiệm vụ bảo vệ 2 phóng viên vác máy quay phim lao vào các trận đánh ác liệt, ông Giang và đồng đội vừa phải bảo đảm an toàn cho người vừa phải che chắn cho phương tiện tác nghiệp của họ. Một lần, tổ bảo vệ và 2 phóng viên nước ngoài hối hả lên đường để đến kịp giờ nổ súng của Sư đoàn 9 chủ lực miền đánh vào đồn trú của đối phương ở Bàu Bàng (Bình Dương cũ). Tuy nhiên, do kế hoạch thay đổi nên khi đoàn đến nơi thì đối phương đã bị tiêu diệt. Dù vậy, ông Lâm Phấn vẫn quyết định ở lại chờ sáng hôm sau ra trận địa, thay vì ghi hình cuộc chiến đấu thì ê kíp sẽ ghi hình cảnh tượng sau trận đánh. Điều không ngờ là chiều hôm ấy, đối phương cho máy bay B52 ném bom "rải thảm" quanh khu vực Bàu Bàng và vùng phụ cận vì nghĩ chủ lực ta chưa rút đi xa.

"Lúc ấy tôi đang tắm dưới suối nghe tiếng động cơ thì vội vã chạy lên cùng 2 đồng đội đưa 2 anh bạn phóng viên xuống hầm, hướng dẫn họ tư thế ngồi để hạn chế sức ép của bom rồi 3 anh em triển khai vị trí chiến đấu đề phòng tập kích bất ngờ. Chúng tôi kiên quyết bảo vệ an toàn cho 2 phóng viên cùng phương tiện máy quay phim. Sau trận bom, cây rừng xác xơ, nhiều hầm trú ẩn bị sập, cả đoàn ai cũng lấm lem bụi đất, quần áo xộc xệch nhưng vẫn bám địa bàn ghi lại những thước phim tư liệu quý giá", đại tá Giang hồi tưởng. Rồi ông kể thêm sau chuyến đi, phóng viên Lâm Phấn có nói với ông nếu muốn sẽ đề nghị cấp trên cho ông sang Trung Quốc học tập, khi thành tài lại trở về VN công tác. Tuy nhiên, đại tá Giang từ chối ngay vì lúc ấy "chỉ mong được ra chiến trường trực tiếp đánh giặc thôi, chả nghĩ đến chuyện sẽ rời Tổ quốc đi học hành nơi đất khách".

Theo Bộ tư lệnh Cảnh vệ, trong hơn 20 năm kháng chiến thống nhất đất nước, cán bộ chiến sĩ Đoàn 180 đã chiến đấu trên 413 trận lớn nhỏ để bảo vệ cấp ủy, bảo vệ căn cứ cách mạng. Tiêu diệt và làm bị thương hơn 4.720 lính đối phương; bắn rơi 29 máy bay lên thẳng, 1 máy bay AD6; bắn cháy và phá hủy 76 xe tăng, xe bọc thép và nhiều xe quân sự khác. Thu giữ 2.321 khẩu súng các loại, trên 15 tấn đạn, 70 máy vô tuyến điện cùng nhiều tài liệu quan trọng và đồ quân dụng.

Những hy sinh thầm lặng nhưng vĩ đại của cán bộ chiến sĩ Đoàn 180 mãi là bản anh hùng ca bất tử, nhắc nhở thế hệ hôm nay và mai sau về giá trị của hòa bình, độc lập và tự do.

Trong cuộc kháng chiến kiên cường và đầy gian khổ của dân tộc, cán bộ chiến sĩ Đoàn 180 có những đóng góp đặc biệt quan trọng gắn liền với công tác chiến đấu, công tác bảo vệ. Đoàn 180 đã tổ chức bảo vệ tuyệt đối an toàn 33 lần cấp ủy di chuyển căn cứ, 1.277 chuyến đi công tác đường xa của các lãnh đạo cấp cao. Hơn 590 lần đưa đón các lãnh đạo T.Ư Cục và khách đến làm việc tại T.Ư Cục miền Nam, bảo vệ và phục vụ hàng trăm hội nghị tại khu căn cứ. Đặc biệt là bảo vệ an toàn các đoàn khách quốc tế: Liên Xô, Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên, Cuba, Pháp vào tham quan chiến trường và thăm vùng giải phóng. (còn tiếp)

Hướng tới kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Bộ Tư lệnh Cảnh vệ (18/10/1956 - 18/10/2026), những ký ức kiên cường của các chiến sĩ Đoàn 180 an ninh vũ trang miền Nam một lần nữa được gợi nhắc qua câu chuyện của Đại tá Nguyễn Phong Giang. Ở tuổi 81, nguyên cán bộ Đoàn 180 hiện vẫn cần mẫn sưu tầm tư liệu, được xem như cuốn tư liệu sống về lịch sử chiến đấu bảo vệ căn cứ Trung ương Cục miền Nam tại rừng Chàng Riệc, tỉnh Tây Ninh. Tòng quân từ đầu năm 1965 tại Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, chiến sĩ Nguyễn Phong Giang cùng các đồng đội cùng quê như Phạm Văn Hùng và Huỳnh Công Trứ đã sát cánh vượt qua nhiều gian khổ, ác liệt trên chiến trường miền Đông Nam bộ. Đầu năm 1966, chiến sĩ Huỳnh Công Trứ được điều động bổ sung cho Sư đoàn 9 và đã dũng cảm hy sinh trong trận càn Attleboro sau khi dùng súng B40 bắn cháy 2 xe thiết giáp M113 của đối phương tại vùng Tam giác sắt. Đến năm 1968, Đại tá Nguyễn Phong Giang bị thương trong chiến đấu và được điều động sang đơn vị mới, trong khi các đồng đội của ông tiếp tục chiến đấu kiên cường ở các địa bàn trọng yếu. Những lá thư và kỷ vật chiến trường còn lưu giữ là minh chứng sống động cho tình đồng chí thủy chung, sự hy sinh thầm lặng của lực lượng an ninh vũ trang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bài học về tinh thần xả thân và trách nhiệm của lực lượng cảnh vệ miền Nam trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt vẫn còn nguyên giá trị lịch sử. Sự cống hiến của thế hệ đi trước chính là tấm gương sáng cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Bộ Tư lệnh Cảnh vệ tiếp tục rèn luyện và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh tổ quốc.