Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) vừa triển khai chương trình cộng thêm lãi suất tiền gửi tối đa 1,6 điểm phần trăm cho hội viên VPBank Prime, áp dụng từ ngày 1/10 đến 6/10. Chương trình dành cho tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 6-13 tháng.
Theo đó, khách hàng gửi từ 10 triệu đồng được cộng 1 điểm phần trăm, từ 50 triệu đồng được cộng 1,6 điểm phần trăm. Với biểu lãi suất hiện hành, mức cao nhất sau ưu đãi có thể lên 8,6%/năm cho kỳ hạn 6-11 tháng và 8,7%/năm cho kỳ hạn 12-13 tháng.
Trước đó, Ngân hàng TMCP Kỹ Thương (Techcombank) cũng áp dụng chương trình cộng lãi suất tối đa 1,8 điểm phần trăm cho tiền gửi kỳ hạn 6 và 12 tháng, đưa mức cao nhất lên 8,4%/năm. Ngân hàng này đồng thời cộng thêm 1 điểm phần trăm cho phần tiền gửi tăng thêm từ 20 triệu đồng ở kỳ hạn 3, 6 và 12 tháng.
Sau ưu đãi, lãi suất ngân hàng tương ứng là 4,75%, 7,7% và 7,9%/năm. Ngoài ra, khách hàng Private (nhóm khách hàng cao cấp) được cộng thêm 0,15 điểm phần trăm, còn Priority (khách hàng ưu tiên) được cộng 0,1 điểm phần trăm.
Không chỉ hai ngân hàng trên, thị trường cũng ghi nhận một số chương trình đưa lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6 tháng lên mức 8%/năm. Tại MB, mức này áp dụng cho khoản tiền gửi từ 1 triệu đồng, với các điều kiện cụ thể của chương trình.
Một ngân hàng trong nhóm Big4 (4 ngân hàng lớn có vốn Nhà nước) cũng áp dụng mức 8%/năm cho tiền gửi kỳ hạn 6 tháng, song yêu cầu số tiền gửi từ 100 triệu đồng.
Như vậy, mức lãi suất niêm yết và mức khách hàng thực nhận có thể có sự khác biệt đáng kể khi các chương trình cộng thêm được áp dụng. Người gửi tiền cần kiểm tra điều kiện về số tiền, kỳ hạn, kênh gửi và hạng khách hàng trước khi tính toán mức lãi suất được hưởng.
Nhân viên kiểm tra giao dịch tiền ngân hàng (Ảnh: Thành Đông).
Theo biểu lãi suất được các ngân hàng niêm yết chính thức, tại kỳ hạn 3 tháng, mức lãi suất phổ biến là 4,75%/năm. Nhóm Big4 gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank cùng niêm yết mức này. Một số ngân hàng khác cũng áp dụng 4,75%/năm, trong khi mức thấp nhất trong bảng là 3,7%/năm tại GPBank.
Ở kỳ hạn 6 tháng, ACB dẫn đầu với lãi suất 7,6%/năm. Sacombank niêm yết 7,2%/năm, trong khi Bac A Bank ở mức 7,05%/năm. LPBank, MBV, VCBNeo và VPBank cùng áp dụng mức 7%/năm. Nhóm Big4 duy trì lãi suất 6,6%/năm.
Với kỳ hạn 9 tháng, ACB tiếp tục có mức lãi suất cao nhất, lên 7,7%/năm. Sacombank đứng ở mức 7,2%/năm, Bac A Bank 7,05%/năm. LPBank, MBV, VCBNeo và VPBank cùng niêm yết 7%/năm. Trong khi đó, lãi suất của nhóm Big4 vẫn ở mức 6,6%/năm.
Tại kỳ hạn 12 tháng, ACB tiếp tục dẫn đầu với 7,8%/năm, tiếp đến là Sacombank 7,5%/năm. LPBank niêm yết 7,2%/năm, trong khi Saigonbank ở mức 7,2%/năm. Bac A Bank, MBV, OCB, PGBank, VCBNeo và VPBank cùng áp dụng mức 7-7,1%/năm. Nhóm Big4 hiện niêm yết 6,8%/năm.
Ở kỳ hạn 18 tháng, Sacombank có mức lãi suất cao nhất trong bảng, đạt 7,5%/năm. LPBank niêm yết 7,15%/năm, trong khi Bac A Bank, MBV, VCBNeo và VPBank cùng ở mức 7,1%/năm. Nhóm Big4 tiếp tục giữ mức 6,8%/năm.
Nhìn chung, mặt bằng lãi suất niêm yết cao nhất hiện tập trung ở một số ngân hàng tư nhân, trong khi nhóm Big4 duy trì mức lãi suất thấp hơn tại các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Tuy nhiên, mức lãi suất khách hàng thực nhận có thể cao hơn biểu niêm yết nếu đáp ứng các điều kiện của chương trình cộng lãi suất hoặc ưu đãi dành cho từng nhóm khách hàng.