Trao đổi với Tiền Phong, các chuyên gia cho rằng Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa, song cần chuyển mạnh mô hình tăng trưởng, nâng hiệu quả sử dụng nguồn lực, phát huy khu vực tư nhân, gia tăng giá trị trong nước và củng cố sức mua nội địa.
TS Cấn Văn Lực (Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng
tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia): Tăng trưởng dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo
Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, theo tôi, Việt Nam cần đồng thời phát huy tốt hơn các động lực tăng trưởng truyền thống và khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng mới.
Quan trọng nhất là phải chuyển mạnh từ tư duy tăng trưởng dựa vào mở rộng nguồn lực sang nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng phát triển.
Giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi một sự chuyển đổi mạnh mẽ về tư duy: từ tăng trưởng dựa vào mở rộng nguồn lực sang tăng trưởng dựa trên năng suất, hiệu quả, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây là nền tảng để Việt Nam không chỉ đạt mục tiêu tăng trưởng nhanh mà còn hướng tới một mô hình phát triển chất lượng, bền vững và bao trùm. TS Cấn Văn Lực
Một số chỉ tiêu chúng ta cần hướng tới trong giai đoạn tới là đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP trên 55%, kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP, hệ số ICOR giảm còn khoảng 4,5 - 4,8 lần và năng suất lao động tăng bình quân khoảng 8,5%/năm.
Ở đây cần phân biệt rõ giữa mô hình tăng trưởng và mô hình phát triển. Mô hình tăng trưởng thường tập trung vào “lượng”, như tăng trưởng GDP, thu nhập, việc làm và có phạm vi, tầm nhìn ngắn hoặc trung hạn.
Trong khi đó, mô hình phát triển phải tập trung nhiều hơn vào “chất” và tính bền vững, bao gồm mức sống, chất lượng cuộc sống, công bằng xã hội, tính bao trùm và môi trường; đồng thời có phạm vi rộng hơn, bao gồm cả kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng và an ninh, với tầm nhìn dài hạn.
Muốn phát triển nhanh, bền vững và bao trùm, Việt Nam cần cả hai. Đổi mới mô hình tăng trưởng là điều kiện cần, còn xác lập mô hình phát triển phù hợp là điều kiện đủ.
Giai đoạn 2026-2030, Việt Nam có nhiều điểm sáng và cơ hội. Trước hết là quyết tâm chính trị cao và quá trình đổi mới mạnh mẽ mô hình quản trị quốc gia. Các chính sách đột phá, việc định hình lại mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, cùng quá trình đổi mới phương thức vận hành của bộ máy sẽ tạo nền tảng quan trọng cho phát triển.
Việt Nam cũng có lợi thế từ thành quả 40 năm đổi mới, vị thế ngày càng được nâng lên và khả năng tận dụng các xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng, sản xuất và tiêu dùng toàn cầu. Bên cạnh đó là lợi thế dân số vàng, dự kiến kéo dài đến hết năm 2037, cùng tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo ngày càng cao.
Tuy nhiên, cơ hội luôn đi cùng thách thức. Rủi ro địa chính trị, xung đột, cạnh tranh thương mại - công nghệ, phân mảnh và bảo hộ thương mại, rủi ro an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh chuỗi cung ứng, an ninh mạng - dữ liệu và biến đổi khí hậu ngày càng hiện hữu và khó đoán định.
Trong nước, năng lực cạnh tranh, năng lực tự chủ, tự cường và sức chống chịu của nền kinh tế còn hạn chế. Chất lượng thể chế và thực thi pháp luật vẫn cần tiếp tục cải thiện. Thị trường tài chính, bất động sản chưa thực sự cân bằng; năng suất lao động còn thấp; cơ cấu lại nền kinh tế, cổ phần hóa, thoái vốn, xử lý doanh nghiệp nhà nước và nâng cao hiệu quả đầu tư công còn chậm. Vì vậy, yêu cầu đổi mới và cải cách là tất yếu.
Một điểm rất đáng chú ý là dư địa từ các động lực tăng trưởng mới còn khá lớn. Theo lượng hóa của Nhóm nghiên cứu BIDV, nếu được khai thác tốt, các động lực này có thể giúp GDP tăng thêm khoảng 2,8-3,7 điểm phần trăm mỗi năm. Như vậy, dư địa tăng trưởng là có, nhưng vấn đề quan trọng là phải biến dư địa thành năng lực tăng trưởng thực tế.
Theo tôi, trước hết cần đưa các nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị, các luật, nghị quyết của Quốc hội và chương trình hành động của Chính phủ vào cuộc sống một cách thực chất; đồng thời xác lập mô hình tăng trưởng và mô hình phát triển mới phù hợp.
Chúng ta phải kiên định ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tỷ giá, thị trường năng lượng, tài chính và bất động sản; bình ổn mặt bằng lãi suất và giảm lãi suất có trọng điểm ở các lĩnh vực ưu tiên. Đồng thời, phải đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực.
Quan trọng hơn, không chỉ chạy theo tốc độ tăng trưởng mà phải đặc biệt quan tâm đến chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, hiệu quả đầu tư, tăng trưởng xanh, bao trùm và bền vững. Việt Nam cũng cần bảo đảm các “an ninh” chiến lược gồm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh chuỗi cung ứng và an ninh mạng - dữ liệu, đồng thời chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.
Ông Bùi Minh Giáp (Chuyên gia kinh tế trưởng, Ngân hàng Phát triển châu Á): Động lực tăng trưởng mới sẽ quyết định sức bật của Việt Nam
Nếu Việt Nam muốn trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045 thì phải bắt đầu từ bây giờ và duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong một thời gian đủ dài. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) hiện dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 ở mức 7,8%, cao hơn mức 7,2% đưa ra trước đó.
Tuy nhiên, điều đáng quan tâm không phải khoảng cách giữa dự báo và mục tiêu của Việt Nam, mà là nền kinh tế sẽ dựa vào những động lực nào để tạo ra mức tăng trưởng cao và duy trì được trong dài hạn.
Sáu tháng đầu năm, kinh tế Việt Nam tăng trưởng 8,2%. Nếu muốn cả năm đạt 10%, tốc độ tăng trưởng nửa cuối năm sẽ phải ở mức rất cao. Đầu tư công, xuất khẩu vẫn còn dư địa, nhưng cũng phải tính đến thương mại quốc tế, giá năng lượng và những bất định của kinh tế thế giới.
Trong 3-5 năm tới, cạnh tranh khu vực sẽ gay gắt hơn, trong khi yêu cầu về xuất xứ, tiêu chuẩn xanh, dữ liệu và kỹ năng công nghệ ngày càng cao. Vì vậy, Việt Nam cần chuyển dần từ mô hình dựa nhiều vào vốn, lao động và FDI sang mô hình dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới sáng tạo, kỹ năng và giá trị gia tăng trong nước. Ông Bùi Minh Giáp
Theo tôi, vấn đề không phải có nên đặt mục tiêu cao hay không, mà là phải chuẩn bị nền tảng để đạt được mục tiêu đó. Muốn tăng trưởng cao, Việt Nam vẫn cần lượng vốn lớn, nhưng mở rộng vốn và lao động không thể là động lực duy nhất. Nếu chỉ tăng đầu vào mà hiệu quả sử dụng nguồn lực không được cải thiện, tăng trưởng sẽ khó duy trì.
Điều quan trọng là nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng cả vốn lẫn lao động, chuyển mạnh sang các động lực dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực.
Lợi thế về dân số và lực lượng lao động của Việt Nam cũng không kéo dài mãi. Khoảng 10 năm tới, tỷ trọng người trên 60 tuổi có thể vượt 20% dân số. Vì vậy, giai đoạn dân số vàng hiện nay là thời điểm quan trọng để nâng cao năng suất và chất lượng nguồn nhân lực.
Tăng trưởng cao đồng thời phải đi cùng ổn định kinh tế vĩ mô. Khi đẩy mạnh tăng trưởng, cần theo dõi chặt chẽ lạm phát, tỷ giá và tín dụng để không tạo ra những bất cân đối mới.
Một động lực cần được phát huy mạnh hơn là khu vực tư nhân trong nước. Doanh nghiệp Việt Nam cần được tiếp cận tốt hơn với vốn, đất đai, dữ liệu, công nghệ, nhân lực và thị trường. Khi doanh nghiệp trong nước lớn mạnh, khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng và tạo ra giá trị gia tăng tại Việt Nam cũng sẽ tăng lên.
FDI vẫn là động lực quan trọng. Nhưng trong giai đoạn tới, câu hỏi không chỉ là thu hút được bao nhiêu vốn mà Việt Nam giữ lại được bao nhiêu giá trị từ dòng vốn đó.
Chúng ta cần chuyển từ tư duy thu hút FDI bằng mọi giá sang xây dựng hệ sinh thái có liên kết tốt hơn giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Hiện nay, không ít doanh nghiệp Việt Nam vẫn ở những khâu có giá trị gia tăng thấp như gia công, đóng gói, vận chuyển.
Muốn thay đổi, cần hỗ trợ doanh nghiệp nâng cấp công nghệ, kỹ năng, tiêu chuẩn chất lượng, chuyển đổi số, tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc. Chính sách ưu đãi FDI cũng có thể gắn nhiều hơn với chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và mua hàng từ doanh nghiệp trong nước.
Mục tiêu không phải giảm FDI mà là làm cho dòng vốn này tạo ra tác động lan tỏa lớn hơn. Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng từ nâng cấp công nghiệp, tham gia các khâu có giá trị cao hơn như thiết kế, nghiên cứu và phát triển, logistics, dịch vụ số, quản lý chuỗi cung ứng; đồng thời phát huy thị trường trong nước, đầu tư hạ tầng, kết nối vùng, kinh tế xanh và kinh tế số.
Để duy trì tăng trưởng 10% trong thời gian dài, theo tôi có ba vấn đề cần ưu tiên. Thứ nhất là nâng chất lượng thực thi chính sách, với thủ tục nhanh hơn, minh bạch hơn và chi phí tuân thủ thấp hơn.
Thứ hai là nâng hiệu quả đầu tư công. Không chỉ quan tâm tỷ lệ giải ngân mà phải chú trọng chất lượng, tác động của dự án đối với logistics, an ninh năng lượng và kết nối vùng.
Thứ ba là tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận tốt hơn với vốn, đất đai, dữ liệu, nhân lực và công nghệ, đồng thời hiểu rõ thị trường và tiêu chuẩn trước khi sản xuất.
Tăng trưởng cao vì vậy không chỉ là tăng thêm vốn hay dự án. Quan trọng hơn là nâng hiệu quả nguồn lực đang có, tạo thêm giá trị trong nước và hình thành những động lực tăng trưởng mới. Khi đó, mục tiêu tăng trưởng cao mới có thể trở thành năng lực tăng trưởng thực tế và bền vững.
PGS.TS Phạm Thế Anh (Trưởng Khoa Kinh tế học, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân): Ngoại thương tăng tốc, kích hoạt sức mua
Theo số liệu Cục Hải quan, từ đầu năm đến giữa tháng 9/2026, xuất khẩu đạt 400,8 tỷ USD, tăng 23,2% so với cùng kỳ; nhập khẩu đạt 424,3 tỷ USD, tăng 36%. Việc nhập khẩu tăng nhanh hơn đã khiến cán cân thương mại đảo chiều mạnh, từ xuất siêu 13,3 tỷ USD cùng kỳ năm trước sang nhập siêu 23,5 tỷ USD.
Tôi cho rằng không nên nhìn nhận nhập siêu đơn thuần là một tín hiệu tiêu cực. Trong một nền kinh tế đang phát triển, nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên liệu và linh kiện để mở rộng sản xuất là điều bình thường.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, Việt Nam cần đồng thời củng cố các động lực từ bên ngoài như xuất khẩu, đầu tư và hội nhập, đồng thời tạo thêm sức bật từ thị trường trong nước. Khi năng lực sản xuất, sức mua và hiệu quả sử dụng nguồn lực cùng được cải thiện, nền kinh tế sẽ có nền tảng tốt hơn để duy trì tăng trưởng trong dài hạn. PGS.TS Phạm Thế Anh
Đặc biệt, khi Việt Nam đang đẩy mạnh đầu tư hạ tầng, công nghiệp và thu hút những dự án công nghệ cao, nhập khẩu có thể tăng mạnh trước khi năng lực sản xuất mới được hình thành. Điều quan trọng nhất nằm ở chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Nếu hàng nhập khẩu phục vụ những dự án hiệu quả, giúp nâng năng suất và tạo năng lực sản xuất, xuất khẩu mới, nhập siêu hiện tại không hẳn là xấu. Ngược lại, nếu vốn đầu tư chảy vào những lĩnh vực không tạo thêm năng suất, nền kinh tế vừa phải sử dụng nhiều ngoại tệ, vừa khó hình thành nguồn thu ngoại tệ tương ứng trong tương lai.
Đây là vấn đề cần đặc biệt lưu ý khi khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hiện chiếm gần 80% kim ngạch xuất khẩu, trong khi nhiều doanh nghiệp trong nước vẫn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu, linh kiện và máy móc nhập khẩu.
Nếu khu vực tư nhân không tập trung nhiều hơn vào sản xuất, nhất là sản xuất hướng đến xuất khẩu, đầu tư càng lớn có thể càng kéo theo nhu cầu nhập khẩu và ngoại tệ.
Theo tôi, tăng trưởng bền vững phải dựa nhiều hơn vào năng suất và hiệu quả đầu tư, thay vì chỉ mở rộng quy mô vốn. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, điều này đòi hỏi sự chuyển dịch thực chất sang đầu tư công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng cường sử dụng nhà cung ứng trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI.
Việt Nam không thể mãi duy trì mô hình xuất khẩu tăng mạnh nhưng giá trị gia tăng giữ lại trong nền kinh tế còn hạn chế. Nếu một phần ngày càng lớn linh kiện, nguyên liệu được sản xuất trong nước, mỗi đồng xuất khẩu sẽ đóng góp nhiều hơn cho thu nhập, việc làm và năng lực sản xuất quốc gia, thay vì kéo theo nhu cầu nhập khẩu tương ứng.
Cũng cần nhìn nhận rằng nội địa hóa không đồng nghĩa với việc phải sản xuất mọi thứ trong nước. Doanh nghiệp cần lựa chọn những công đoạn có lợi thế cạnh tranh, có khả năng tham gia chuỗi giá trị và tạo ra giá trị gia tăng thực chất.
Về chính sách, cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, tháo gỡ thủ tục, giảm chi phí logistics và tạo thuận lợi thương mại. Những cải cách này không chỉ giúp hàng Việt cạnh tranh tốt hơn ở thị trường quốc tế mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất toàn cầu. Ngoài ra, tiêu dùng trong nước tiếp tục là một trụ cột quan trọng của tăng trưởng kinh tế.
Tám tháng năm nay, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 5.235,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ. Riêng bán lẻ hàng hóa đạt gần 3.948 nghìn tỷ đồng; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 16,4%, du lịch lữ hành tăng 17,1%. Những con số này cho thấy thị trường nội địa tiếp tục mở rộng, tạo dư địa đáng kể cho doanh nghiệp sản xuất, thương mại và dịch vụ.
Tuy nhiên, điểm cần chú ý là sau khi loại trừ yếu tố giá, mức tăng chỉ còn 7,6%, gần như không cải thiện so với mức 7,5% cùng kỳ năm ngoái. Điều đó phản ánh sức mua thực tế của nền kinh tế chưa có sự bứt phá tương xứng với mức tăng doanh thu danh nghĩa.
Đặc biệt, giá nhà ở cao đang làm giảm phần thu nhập có thể dành cho tiêu dùng của nhiều hộ gia đình. Khi một phần lớn nguồn lực phải dành cho nhà ở và những khoản chi thiết yếu, người dân có xu hướng thận trọng hơn với các quyết định mua sắm, nhất là hàng hóa có giá trị lớn.
Muốn thúc đẩy tiêu dùng bền vững, không thể chỉ dựa vào những chương trình khuyến mại hoặc kích cầu ngắn hạn. Vấn đề căn bản vẫn là cải thiện thu nhập thực tế, ổn định mặt bằng giá và nâng cao niềm tin của người tiêu dùng vào triển vọng kinh tế.
Về dài hạn, sức cạnh tranh của nền kinh tế không thể chỉ được đo bằng quy mô kim ngạch xuất nhập khẩu hay doanh thu bán lẻ. Điều quan trọng hơn là mỗi đơn vị vốn đầu tư tạo ra bao nhiêu giá trị gia tăng, mỗi doanh nghiệp nâng được năng suất đến đâu và thu nhập của người dân được cải thiện như thế nào.