Làng chài Cảnh Dương gần 400 tuổi đang lưu giữ hai bộ xương cá voi khổng lồ được người dân tôn kính gọi là “Đức Ông”, “Đức Bà”. Ngôi làng còn có hàng chục ngôi mộ cá voi khác được đặt những cái tên hết sức độc đáo.
Bộ xương cá voi “Đức Ông” được lưu giữ ở làng chài Cảnh Dương - Ảnh: THANH NGUYÊN
Làng chài Cảnh Dương (xã Hòa Trạch, tỉnh Quảng Trị) được biết đến là một trong “Bát danh hương” - tức tám làng cổ có danh tiếng lâu đời của vùng đất Quảng Bình cũ. Theo sử sách, làng Cảnh Dương được thành lập năm Quý Mùi (1634), đến nay đã gần 400 năm tuổi.
Trải qua hàng trăm năm bám biển mưu sinh, tín ngưỡng thờ cúng cá voi đã trở thành nét văn hóa, tâm linh gắn bó mật thiết với người dân làng biển này.
Hiện nay người dân Cảnh Dương đang thờ phụng hai bộ xương cá voi “Đức Ông” và “Đức Bà” tại Ngư Linh Miếu. Theo dân làng Cảnh Dương, cá bà “lụy” vào vùng biển này năm Kỷ Tỵ (1809), cá ông “lụy” vào năm Đinh Mùi (1907).
Hai bộ xương cá voi khổng lồ được đặt trên hai sạp gỗ trong Ngư Linh Miếu, ở giữa là điện thờ. Nhiều đốt sống, xương vây hình cánh quạt và xương đầu cá voi được người dân gìn giữ, bảo quản cẩn thận. Đặc biệt, bốn thanh xương sườn cong hình cánh cung được dựng sát tường, cao hơn 4m, người dân ví như những cặp ngà voi khổng lồ.
Nhiều đốt sống, xương vây hình cánh quạt và xương đầu cá voi được người dân gìn giữ, bảo quản cẩn thận - Ảnh: THANH NGUYÊN
Là người đảm nhiệm việc trông coi miếu, ông Đậu Văn Hải (69 tuổi, thôn Cảnh Dương Bắc) cho biết do trải qua hai cuộc chiến tranh, nhiều phần xương của “Đức Ông”, “Đức Bà” đã bị thất lạc hoặc hư hỏng. Đến năm 2004, Ngư Linh Miếu được xây dựng để thờ tự, lưu giữ hai bộ xương này.
Trước đây, các nhà nghiên cứu từng lấy mẫu và xác định bộ xương "Đức Ông" dài khoảng 28,8m, "Đức Bà" khoảng 28,5m. Khi còn sống, "Đức Ông" và "Đức Bà" có thể nặng hàng trăm tấn.
Cách Ngư Linh Miếu không xa là khu nghĩa địa dành riêng cho những con cá voi “lụy” bờ tại biển Cảnh Dương. Hàng chục ngôi mộ được xây dựng không khác gì những ngôi mộ của con người. Trước mỗi bia mộ đều có một bát nhang.
Đặc biệt, trên bia mộ, ngư dân khắc tên, thông tin ngày tháng phát hiện cá gặp nạn. Điều thú vị là mỗi ngôi mộ cá voi đều có một cái tên riêng biệt như Công tước Nam Dương, Chàng Lang Quân, Thái Quân, Quận Chúa…
"Sau khi hạ táng “các ngài”, khoảng 6-7 năm sau, người dân sẽ bốc mộ, lập bia đá và đặt tên cho từng ngôi mộ. Người dân trong làng sẽ cho khắc tên lên bia đá để người làng thờ phụng”, bà Nguyễn Mai, người dân Cảnh Dương Bắc, chia sẻ.
Qua thời gian, nhiều phần xương cá voi không còn nguyên vẹn - Ảnh: THANH NGUYÊN
Phần xương vây ngực cá voi hình cánh quạt lớn - Ảnh: THANH NGUYÊN
Mỗi ngôi mộ cá voi đều có một cái tên riêng biệt - Ảnh: THANH NGUYÊN
Hai hộ dân với 3 thửa đất chưa bàn giao mặt bằng là điểm nghẽn cuối cùng cản bước tuyến đường Tân Liên - Thuận, khiến hàng trăm người dân phải vật lộn với bùn lầy để lên rẫy hằng ngày.
Làng chài Cảnh Dương, nay thuộc xã Hòa Trạch, tỉnh Quảng Trị, là một trong “Bát danh hương”, nhóm tám làng cổ nổi tiếng của vùng đất Quảng Bình cũ. Theo sử sách, làng được thành lập vào năm Quý Mùi 1634, đến nay đã trải qua gần bốn thế kỷ hình thành, phát triển và bám biển mưu sinh. Trong dòng chảy lịch sử ấy, tín ngưỡng thờ cá voi dần trở thành một phần quan trọng trong đời sống tinh thần, văn hóa và tâm linh của cư dân nơi đây.
Tại Ngư Linh Miếu, người dân Cảnh Dương hiện thờ hai bộ xương cá voi được gọi kính trọng là “Đức Ông” và “Đức Bà”. Theo lời kể dân làng, cá bà “lụy” vào vùng biển Cảnh Dương năm Kỷ Tỵ 1809, còn cá ông gặp nạn vào năm Đinh Mùi 1907. Hai bộ xương khổng lồ được đặt trên hai sạp gỗ, giữa miếu là điện thờ, tạo nên không gian vừa linh thiêng vừa gây ấn tượng mạnh với khách ghé thăm.
Những phần còn lại gồm nhiều đốt sống, xương vây có hình cánh quạt và các mảnh xương đầu được người dân gìn giữ, bảo quản cẩn thận qua nhiều thế hệ. Đáng chú ý nhất là bốn thanh xương sườn cong hình cánh cung, dựng sát tường, vươn cao hơn 4m và được ví von như những cặp ngà voi khổng lồ. Kích thước đặc biệt ấy giúp người xem hình dung phần nào vóc dáng đồ sộ của những sinh vật từng làm chủ vùng biển rộng lớn.
Ông Đậu Văn Hải, 69 tuổi, ở thôn Cảnh Dương Bắc, người đảm nhiệm việc trông coi miếu, cho biết hai cuộc chiến tranh khiến nhiều phần xương của “Đức Ông” và “Đức Bà” thất lạc hoặc hư hỏng. Đến năm 2004, Ngư Linh Miếu được xây dựng, trở thành nơi thờ tự đồng thời lưu giữ những phần xương còn lại của hai cá voi lớn. Trước đó, các nhà nghiên cứu từng lấy mẫu và xác định bộ xương “Đức Ông” dài khoảng 28,8m, còn “Đức Bà” dài khoảng 28,5m.
Với chiều dài gần 30m, hai cá voi khi còn sống được cho là có thể nặng hàng trăm tấn, một kích thước khiến câu chuyện về chúng càng thêm kỳ vĩ. Người dân Cảnh Dương gọi việc cá voi trôi dạt, gặp nạn vào bờ là “lụy”, cách gọi thể hiện sự kính trọng đặc biệt dành cho loài vật được xem như vị thần che chở ngoài khơi. Trong tâm thức nhiều thế hệ ngư dân, cá voi không chỉ là sinh vật biển mà còn gắn với niềm tin bảo hộ, cứu giúp con người khi đối mặt sóng gió.
Cách Ngư Linh Miếu không xa là khu nghĩa địa dành riêng cho những con cá voi “lụy” bờ tại biển Cảnh Dương, với hàng chục ngôi mộ được xây dựng trang trọng. Mỗi ngôi mộ có hình thức gần giống mộ người, phía trước đặt một bát nhang, trên bia ghi tên cùng thông tin về ngày tháng ngư dân phát hiện cá gặp nạn. Những cái tên như Công tước Nam Dương, Chàng Lang Quân, Thái Quân hay Quận Chúa khiến khu nghĩa địa mang vẻ riêng biệt, vừa trang nghiêm vừa giàu màu sắc văn hóa biển.
Bà Nguyễn Mai, một người dân ở Cảnh Dương Bắc, cho biết sau khi hạ táng “các ngài”, khoảng 6 đến 7 năm sau, dân làng sẽ bốc mộ, lập bia đá và đặt tên riêng cho từng ngôi mộ. Tên gọi được khắc lên bia để người trong làng tiếp tục hương khói, thờ phụng, duy trì nghi lễ qua các thế hệ. Cách ứng xử ấy cho thấy lòng biết ơn sâu sắc của cư dân miền biển đối với những sinh vật mà họ tin từng gắn bó với sự bình an của làng chài.
Qua thời gian, nhiều phần xương cá voi không còn nguyên vẹn, nhưng những gì còn lại vẫn kể câu chuyện về lịch sử gần 400 năm của Cảnh Dương. Từ miếu thờ với hai bộ xương dài hàng chục mét đến nghĩa địa có tên tuổi, bát nhang và bia đá, tín ngưỡng này đang lưu giữ dấu ấn đặc biệt của văn hóa ngư dân. Theo ghi nhận của báo Tuổi Trẻ, nơi đây không chỉ là điểm thờ tự linh thiêng mà còn là chứng tích sống động về mối quan hệ giữa con người, biển cả và ký ức cộng đồng.