Lệ phí môn bài là gì?
Trong chiến dịch làm sạch mã số thuế, một số doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế (trạng thái 03) hoặc không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký (trạng thái 06) có thể phát sinh các khoản phải nộp, trong đó có lệ phí môn bài, tiền chậm nộp và tiền phạt. Vậy lệ phí môn bài là gì?
Theo Nghị định 139/2016/NĐ-CP, lệ phí môn bài là khoản tiền tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải nộp cho Nhà nước, trừ các trường hợp được miễn theo quy định.
Lệ phí môn bài được áp dụng đối với các tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; cá nhân, nhóm cá nhân và hộ gia đình hoạt động kinh doanh.
Đối với tổ chức, mức thu lệ phí môn bài được xác định chủ yếu dựa trên vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư. Trong khi đó, đối với cá nhân, nhóm cá nhân và hộ gia đình kinh doanh, mức thu căn cứ vào doanh thu.
Trên thực tế, người dân vẫn thường gọi là “thuế môn bài”. Tuy nhiên, từ ngày 1/1/2017, thuật ngữ “thuế môn bài” không còn được sử dụng trong các văn bản pháp luật mà được thay thế bằng “lệ phí môn bài”.
Việc thay đổi này không chỉ là thay đổi về cách gọi. Theo quy định, thuế là khoản nộp ngân sách Nhà nước bắt buộc theo các luật thuế. Trong khi đó, lệ phí là khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan Nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý Nhà nước.
Những ai phải nộp lệ phí môn bài?
Theo Nghị định 139/2016 của Chính phủ, người nộp lệ phí môn bài là tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, trừ các trường hợp được miễn.
Các đối tượng phải nộp gồm:
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức được thành lập theo Luật Hợp tác xã.
- Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân.
- Tổ chức khác hoạt động sản xuất, kinh doanh.
- Chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh của các tổ chức nêu trên.
- Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, không phải tất cả các đối tượng trên đều phải nộp lệ phí môn bài. Pháp luật cũng quy định nhiều trường hợp được miễn. Bao gồm:
- Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh có doanh thu hàng năm từ 100 triệu đồng trở xuống.
- Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh không thường xuyên, không có địa điểm cố định theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
- Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình sản xuất muối.
- Tổ chức, cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá.
- Điểm bưu điện văn hóa xã; cơ quan báo chí (báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử).
- Chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của hợp tác xã hoạt động dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp.
- Quỹ tín dụng nhân dân xã; hợp tác xã chuyên kinh doanh dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp; chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của hợp tác xã và doanh nghiệp tư nhân kinh doanh tại địa bàn miền núi theo quy định.
Mức lệ phí môn bài đối với doanh nghiệp
Theo Nghị định 139/2016 và Thông tư 302/2016 của Bộ Tài chính, mức lệ phí môn bài đối với tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ được xác định theo vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư.
Cụ thể:
Tổ chức có vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư trên 10 tỷ đồng: 3 triệu đồng/năm.
Tổ chức có vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư từ 10 tỷ đồng trở xuống: 2 triệu đồng/năm.
Chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế khác: 1 triệu đồng/năm.
Mức thu được căn cứ vào vốn điều lệ ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc điều lệ hợp tác xã.
Trường hợp không có vốn điều lệ thì căn cứ vào vốn đầu tư ghi trong giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc văn bản quyết định chủ trương đầu tư.
Nếu tổ chức có thay đổi vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư thì căn cứ xác định mức thu lệ phí môn bài là vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư của năm trước liền kề năm tính lệ phí môn bài.
Trường hợp vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư được ghi bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra tiền đồng Việt Nam để xác định mức lệ phí môn bài theo quy định.
Mức lệ phí môn bài đối với hộ kinh doanh, cá nhân
Đối với cá nhân, nhóm cá nhân và hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, mức lệ phí môn bài được xác định theo doanh thu.
Cụ thể:
Doanh thu trên 500 triệu đồng/năm: 1 triệu đồng/năm.
Doanh thu trên 300 đến 500 triệu đồng/năm: 500.000 đồng/năm.
Doanh thu trên 100 đến 300 triệu đồng/năm: 300.000 đồng/năm.
Từ năm 2026 chấm dứt thu lệ phí môn bài
Chính sách về lệ phí môn bài đã có thay đổi quan trọng. Theo tiểu mục 2.1 Mục 2 Phần III Nghị quyết 68-NQ/TW năm 2025 về phát triển kinh tế tư nhân, một trong những giải pháp được Bộ Chính trị đưa ra là bãi bỏ lệ phí môn bài.
Đồng thời, Điều 10 Nghị quyết 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân quy định: chấm dứt việc thu, nộp lệ phí môn bài từ ngày 1/1/2026.
Quy định này có ý nghĩa đáng chú ý đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh, nhất là những trường hợp đang xử lý các nghĩa vụ thuế để hoàn tất thủ tục chấm dứt hoạt động.
Trước đó, trao đổi với PV VietNamNet, ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, cho biết lệ phí môn bài, tiền chậm nộp và tiền phạt do chậm nộp tờ khai có thể trở thành gánh nặng tài chính đối với người nộp thuế, đồng thời là rào cản đối với chiến dịch làm sạch mã số thuế của ngành thuế.
Theo ông Tuấn, không nhiều người dân có đủ nguồn lực để chi trả số tiền có thể lên tới hàng trăm triệu đồng nhằm hoàn thành tất cả nghĩa vụ trước khi đóng mã số thuế, giải thể doanh nghiệp.
Vị chuyên gia cho rằng không nhất thiết phải truy thu lệ phí môn bài đối với những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động.
Theo lý giải, lệ phí môn bài là một loại phí hành chính phải nộp khi được cơ quan Nhà nước cung cấp dịch vụ công khi ra hoạt động kinh doanh. Khoản phí này được tính dựa trên vốn điều lệ đăng ký đối với doanh nghiệp hoặc doanh thu ước tính đối với hộ kinh doanh.
“Khi người nộp thuế đã ngừng hoạt động nhiều năm, điều này cũng đồng nghĩa phí hành chính công không được cung cấp cho người nộp thuế trong khoảng thời gian đó. Do đó, để giảm gánh nặng cho người nộp thuế khi đóng giấy phép kinh doanh, có thể cân nhắc không thu khoản lệ phí này”, ông Tuấn đề xuất.
Bên cạnh đó, ông Tuấn cho rằng cũng nên cân nhắc giảm nhẹ mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chậm nộp tờ khai trong trường hợp tờ khai trắng, không phát sinh nghĩa vụ thuế.