Thay vì chỉ chờ đến mùa cắt hoa, thu hạt hay đào củ, tại một số vùng trồng sen, cánh đồng đang được biến thành điểm tham quan, chụp ảnh. Du khách tìm đến đồng nghĩa với một nguồn thu mới được tạo ra ngay khi những bông hoa vẫn còn khoe sắc.
Sau mùa du lịch, hoa, hạt, ngó, củ và lá tiếp tục trở thành nông sản. Qua chế biến, chúng lại được nâng giá trị thành trà sen, hạt sen sấy, thực phẩm, đồ uống hay các sản phẩm OCOP.
Tuy nhiên, phía sau những cánh đồng sen đông khách và những con số hấp dẫn là câu hỏi lớn hơn: Liệu cây sen có thể trở thành một hướng chuyển đổi bền vững, hay sẽ lại rơi vào vòng lặp mở rộng diện tích theo phong trào rồi đối mặt với bài toán đầu ra?
Trao đổi với phóng viên báo Dân trí, PGS.TS Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cho rằng giá trị của cây sen không nằm ở riêng hoa, hạt hay củ, mà ở khả năng hình thành một chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến dịch vụ và du lịch.
"Sen chỉ thực sự giúp người dân nâng cao thu nhập khi được tổ chức thành một chuỗi hoàn chỉnh, từ giống, kỹ thuật, thị trường đến chế biến, thương hiệu và dịch vụ trải nghiệm", PGS Đông nhấn mạnh.
Hoa sen trong chiến lược thích ứng biến đổi khí hậu
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan ngày càng rõ rệt, cây sen có lợi thế gì khi được đưa vào chuyển đổi tại những vùng sản xuất nông nghiệp khó khăn?
- Sen là cây thủy sinh có khả năng thích nghi khá tốt với điều kiện ngập nước và những chân ruộng trũng mà nhiều cây trồng cạn khó phát triển.

PGS.TS Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả - Học viện Nông nghiệp Việt Nam (Ảnh: Minh Nhật).
Tán lá che phủ mặt nước góp phần hạn chế bốc hơi và kìm hãm một phần cỏ dại; ruộng sen còn tạo cảnh quan, sinh cảnh cho nhiều loài thủy sinh và có thể kết hợp nuôi cá ở mức độ phù hợp. Vì vậy, tại những vùng thường xuyên úng ngập hoặc hiệu quả lúa thấp, sen có thể là một lựa chọn thích ứng đáng cân nhắc.
Nhưng không nên hiểu rằng sen là cây ‘chịu được mọi cực đoan’. Sen vẫn có thể thiệt hại bởi bão, mưa lớn kéo dài, nước quá sâu, hạn làm thiếu nước, rét, nắng nóng bất thường, ô nhiễm nguồn nước và các bệnh thối củ, thối thân, đốm lá.
Biến đổi khí hậu còn làm lịch sinh trưởng và quần thể sâu bệnh thay đổi. Do đó, lợi thế thích ứng chỉ phát huy khi có giống phù hợp vùng sinh thái, chủ động điều tiết nước, theo dõi pH và chất lượng nước, bố trí thời vụ, quản lý dinh dưỡng và dự báo sâu bệnh.

Cây sen đang khiến những cánh đồng chiêm trũng "đẻ ra tiền" (Ảnh: Thành Đông).
Về mặt kinh tế, đa dạng sản phẩm và luân canh giúp phân tán rủi ro. Khi hoa tươi khó bán vẫn có thể chuyển một phần sang hạt, củ hoặc chế biến; khi du lịch giảm vẫn còn nguyên liệu cho doanh nghiệp.
Đây chính là cách kết hợp thích ứng khí hậu với thích ứng thị trường, hai yêu cầu phải đi cùng nhau trong nông nghiệp hiện nay.
Chuỗi giá trị liên kết giúp nông dân trúng lớn
Từ thực tế các vùng trồng sen mà ông đã khảo sát, có mô hình nào cho thấy rõ nhất việc chuyển đổi sang trồng sen đã giúp một vùng đất sản xuất kém hiệu quả tạo ra giá trị kinh tế cao hơn? Thu nhập của người dân thay đổi như thế nào trước và sau chuyển đổi?
- Nếu chọn một mô hình có tính gợi mở rõ, tôi muốn nói đến những vùng đất trũng, cấy lúa một vụ bấp bênh hoặc từng bị bỏ hoang ở Ninh Thắng (Ninh Bình), Vân Đài - Hồng Minh (Hưng Yên) và một số vùng tại Đồng Tháp.
Điểm chung là trước chuyển đổi, đất khó canh tác, hiệu quả thấp; sau khi trồng sen và tổ chức được liên kết, cùng một mặt ruộng bắt đầu tạo ra nhiều dòng thu nhập hơn.
Tại Ninh Thắng, ghi nhận thực tế cho thấy người dân có thêm ba nguồn thu khá rõ: tiền công chăm sóc, tiền cho thuê hoặc góp đất và tiền bán nguyên liệu sen; tổng thu nhập được phản ánh cao gấp khoảng 3-4 lần so với thời chỉ cấy lúa một vụ.

Mô hình trồng sen du lịch ở Ninh Bình (Ảnh: Thành Đông).
Ở Đồng Tháp, mức lợi nhuận bình quân từ trồng sen từng được ngành nông nghiệp địa phương công bố khoảng 36-40 triệu đồng/ha/năm, cao khoảng 3 lần trồng lúa; những hộ kết hợp chế biến và du lịch có thể đạt mức cao hơn nhiều.
Tại Vân Đài, mô hình sen lấy củ, lấy hoa, lấy hạt, ở mức giá thuận lợi, doanh thu có thể đạt khoảng 300-400 triệu đồng/ha/vụ.
Tuy nhiên, đây là các mức tham khảo của từng mô hình, không phải con số bảo đảm cho mọi vùng.
Hiệu quả thực nhận phụ thuộc rất lớn vào giống, chất lượng đất - nước, sâu bệnh, trình độ canh tác, tỷ lệ sản phẩm loại 1, giá bán và đặc biệt là đầu ra.
Giá trị lớn nhất của chuyển đổi không chỉ nằm ở việc cây sen cho giá cao hơn cây lúa, mà ở chỗ vùng đất kém hiệu quả được đánh thức, tạo thêm việc làm, cảnh quan và cơ hội chế biến - dịch vụ cho cả cộng đồng.



Điểm chung của mô hình thành công không phải chỉ là năng suất. Đó là có chủ thể dẫn dắt – thường là hợp tác xã hoặc doanh nghiệp; có giống đúng mục đích; có quy trình đồng nhất; có sản phẩm chủ lực đủ quy mô; có chế biến - bảo quản; và có cách kể câu chuyện văn hóa bản địa.
Khi thiếu một trong các mắt xích này, nông dân dễ rơi vào cảnh được mùa nhưng bán nguyên liệu giá thấp.
Một bài học khác là phải coi người dân là chủ thể kinh tế, không chỉ là người nhận kỹ thuật. Họ cần được tham gia từ khâu lựa chọn sản phẩm, xây dựng quy trình, ghi chép số liệu, tính giá thành đến đàm phán hợp đồng. Khi nông dân biết mình trồng cho ai, tiêu chuẩn gì và lãi ở khâu nào, chuyển đổi mới bền vững.
Từ hoa, hạt, ngó, củ, lá đến chế biến, sản phẩm OCOP và du lịch trải nghiệm, theo ông, làm thế nào để nông dân có thể “lãi nhiều lần” trên cùng một ruộng sen, thay vì phụ thuộc vào một sản phẩm và một mùa thu hoạch?
- Muốn ‘lãi nhiều lần’, trước hết phải bỏ tư duy trồng một giống sen rồi thu tất cả các bộ phận. Mỗi giống có thế mạnh riêng: giống lấy hoa, lấy hạt, lấy củ, lấy ngó hay làm cảnh.
Ngay từ đầu phải xác định thị trường chính, bố trí cơ cấu giống và lịch thu hoạch phù hợp; sau đó mới thiết kế các tầng giá trị bổ sung.
Tầng thứ nhất là sản phẩm tươi có chất lượng đồng đều: hoa, hạt, củ, ngó, lá. Tầng thứ hai là sơ chế và chế biến như hạt sen sấy, trà sen, trà lá sen, củ sen, ngó sen, thực phẩm - đồ uống từ sen.

Các sản phẩm chế biến về sen trưng bày tại Hội thảo Quốc gia “Hoa sen gắn với phát triển làng nghề” (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Tầng thứ ba là tiêu chuẩn, bao bì, truy xuất nguồn gốc, nhãn hiệu và OCOP để sản phẩm đi xa hơn, bán được quanh năm.
Tầng thứ tư là dịch vụ: tham quan, chụp ảnh, trải nghiệm thu hái, ẩm thực, giáo dục văn hóa và kết nối làng nghề. Tầng cuối cùng là tuần hoàn phụ phẩm, chẳng hạn tận dụng cuống, lá già và bùn hữu cơ theo quy trình phù hợp, giảm chi phí và áp lực môi trường.
Nông dân đơn lẻ khó làm trọn chuỗi này. Cần hợp tác xã đứng ra tổ chức vùng nguyên liệu, thống nhất quy trình và gom sản lượng; doanh nghiệp đảm nhiệm chế biến, thiết kế sản phẩm và thị trường; nhà khoa học cung cấp giống, quy trình, bảo quản; địa phương đầu tư hạ tầng và kết nối du lịch.
Khi các khâu được phân vai rõ, một ruộng sen có thể tạo tiền từ nông sản, sản phẩm chế biến và dịch vụ, thay vì chỉ chờ một đợt thu hoạch hạt hoặc củ.
Không nên chạy theo phong trào
Những vùng đất nào thực sự phù hợp và đâu là trường hợp không nên chạy theo phong trào trồng sen?

Nghiên cứu khoa học góp phần quan trọng giúp nâng tầm loài hoa mang tính biểu tượng (Ảnh: Thành Đông).
- Sen phù hợp với vùng đất trũng, ruộng lúa hiệu quả thấp, ao hồ nông hoặc vùng có khả năng giữ và điều tiết mực nước; đất tương đối bằng phẳng, tầng canh tác đủ, nguồn nước sạch, giao thông thuận lợi cho thu hoạch.
Với sen lấy củ, kết cấu đất và khả năng thu hoạch cơ giới hoặc bán cơ giới rất quan trọng. Với sen du lịch, ngoài điều kiện sinh thái còn cần cảnh quan, lối tiếp cận, an toàn và thị trường khách.
Không nên trồng sen ở nơi nguồn nước ô nhiễm bởi công nghiệp, chăn nuôi hoặc tồn dư hóa chất; vùng nước quá sâu, dòng chảy mạnh, khó kiểm soát; đất nhiễm mặn hoặc phèn vượt ngưỡng của giống; khu thường xuyên thiếu nước; hoặc nơi chưa đánh giá sinh vật gây hại.
Cũng không nên chuyển đổi đất lúa có năng suất cao, hạ tầng tốt chỉ vì thấy giá sen tăng trong một thời điểm.
Đặc biệt, nếu chưa có sản phẩm mục tiêu, chưa có người mua, chưa tính chi phí thu hoạch, sơ chế và chưa xác định đơn vị tổ chức sản xuất thì chưa nên mở rộng.
Cách an toàn là khảo sát đất, nước và thị trường, làm mô hình nhỏ qua ít nhất hai vụ, có sổ theo dõi chi phí, năng suất, giá bán, sau đó mới nhân rộng.
Nếu thấy một số mô hình trồng sen cho thu nhập tốt rồi các địa phương cùng mở rộng diện tích, liệu có nguy cơ rơi vào cảnh “trồng theo phong trào”, sản lượng tăng nhưng không bán được?
- Nguy cơ đó hoàn toàn có thật. Sen tươi có tính mùa vụ, một số bộ phận khó bảo quản; nếu nhiều nơi cùng thu hoạch trong thời gian ngắn mà năng lực sơ chế, kho lạnh và chế biến không tăng tương ứng, giá có thể giảm rất nhanh.

Diện tích chỉ nên tăng theo năng lực thị trường. Làm thí điểm, đo lường thực chất rồi mở rộng sẽ chậm hơn một chút nhưng an toàn hơn cho nông dân (Ảnh: Hữu Nghị).
Đồng Tháp từng có giai đoạn diện tích sen giảm do sâu bệnh và giá không ổn định. Đây là cảnh báo rõ rằng hiệu quả của một năm không thể thay thế cho chiến lược dài hạn.
Trước khi chuyển đổi cần tối thiểu sáu điều kiện.
- Một là, khảo sát thị trường và có thỏa thuận tiêu thụ hoặc khách hàng mục tiêu.
- Hai là, xác định sản phẩm chủ lực và giống phù hợp.
- Ba là, đánh giá đất, nước, thủy lợi và rủi ro sâu bệnh.
- Bốn là có tổ chức liên kết - hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc doanh nghiệp đầu mối.
- Năm là có phương án sơ chế, bảo quản, chế biến và xử lý phụ phẩm.
- Sáu là tính toán đầy đủ giá thành, điểm hòa vốn và kịch bản khi giá giảm hoặc thời tiết bất lợi.
Tôi đề nghị các địa phương chuyển từ chỉ tiêu ‘mở rộng bao nhiêu héc-ta’ sang chỉ tiêu ‘bao nhiêu phần trăm sản lượng có hợp đồng, được sơ chế chế biến, truy xuất nguồn gốc và bán với thương hiệu’.
Diện tích chỉ nên tăng theo năng lực thị trường. Làm thí điểm, đo lường thực chất rồi mở rộng sẽ chậm hơn một chút nhưng an toàn hơn cho nông dân.
Xin trân trọng cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!