Bỏ qua điều hướng

Lý do 92% người có nhu cầu mua nhà ở xã hội chưa từng nộp hồ sơ

Lý do 92% người có nhu cầu mua nhà ở xã hội chưa từng nộp hồ sơ
Nguồn ảnh: VietnamNet

Dù nhu cầu nhà ở xã hội rất lớn, nhưng 92% người được khảo sát có nhu cầu mua vẫn chưa từng nộp hồ sơ, chủ yếu do tâm lý ngại thủ tục phức tạp và lo khó được xét duyệt.

Phát biểu tại hội thảo Nghiên cứu phát triển chính sách tạo lập thị trường nhà ở xã hội tại Việt Nam, PGS.TS Hoàng Công Gia Khánh, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Luật (ĐHQG TPHCM), cho rằng phát triển nhà ở xã hội là bài toán phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp giữa kinh tế, doanh nghiệp và Nhà nước.

Theo ông Khánh, cần mở rộng cách tiếp cận từ “nhà ở xã hội” sang “nhà ở vừa túi tiền”, bởi thị trường đang có khoảng trống giữa người đủ điều kiện mua nhà ở xã hội và người có khả năng mua nhà thương mại. Đây chủ yếu là người trẻ, công nhân, viên chức và các gia đình có thu nhập trung bình.

Nhu cầu nhà ở xã hội ước tính 3,12 triệu căn

Cung cấp số liệu định lượng, PGS.TS Trần Thị Hồng Liên dựa trên số liệu của Tổng cục Thống kê (GSO) năm 2024 và tỷ lệ đô thị hóa do Bộ Xây dựng công bố để ước tính cả nước có khoảng 7,04 triệu hộ gia đình có nhu cầu nhà ở xã hội xét theo khả năng kinh tế.

Sau khi tính theo cơ cấu thu nhập và tỷ lệ hộ đô thị, tổng cầu thực tế được ước tính còn khoảng 3,12 triệu hộ, tương ứng nhu cầu khoảng 3,12 triệu căn và 155,94 triệu m2 sàn.

W-nhà ở xã hội 001.png
PGS.TS Trần Thị Hồng Liên đại diện nhóm nghiên cứu trình bày tại hội thảo.

Đáng chú ý, 92% người được khảo sát chưa từng nộp hồ sơ mua nhà ở xã hội dù có nhu cầu. Theo bà Liên, nguyên nhân là do tâm lý ngại thủ tục phức tạp, cơ hội được duyệt thấp. Cảm nhận về tính khả thi của quy trình xét duyệt thậm chí tác động đến ý định mua mạnh hơn yếu tố giá.

“Không phải họ thờ ơ mà vì gặp rào cản tâm lý, cảm thấy việc tiếp cận nhà ở xã hội quá khó khăn nên chưa bắt đầu”, bà nói.

Bà Liên nhận định, chính sách không chỉ cần được ban hành mà phải giúp người dân cảm thấy có thể tiếp cận và sử dụng. Vì vậy, cần tăng cường truyền thông để họ hiểu rõ quyền lợi, điều kiện và khả năng tiếp cận nhà ở xã hội.

Ở phía cung, PGS.TS Trần Thị Hồng Liên xác định 5 nhóm chủ thể phát triển nhà ở xã hội gồm doanh nghiệp nhà nước và công ích, tập đoàn bất động sản tư nhân lớn, doanh nghiệp địa phương vừa và nhỏ, chủ đầu tư khu công nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, không nhóm nào có thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu.

Bà Liên cho rằng điểm nghẽn lớn nhất của nhà ở xã hội nằm ở thể chế, không phải thị trường. Dựa trên nghiên cứu kinh nghiệm tại 10 quốc gia, vùng lãnh thổ bà đề xuất luật hóa các quy định thí điểm, mở rộng đối tượng thụ hưởng, trong đó có cán bộ, công chức, viên chức khó khăn về nhà ở.

Về dài hạn, bà đề xuất mô hình thị trường 3 tầng: nhà ở xã hội cho thuê có Nhà nước hỗ trợ; nhà ở thương mại vừa túi tiền, khống chế giá theo thu nhập địa phương và nhà ở thương mại không hạn chế thu nhập. Đồng thời, xây dựng cơ chế tiết kiệm nhà ở bắt buộc, liên thông VNeID với cơ sở dữ liệu quốc gia về nhà ở xã hội.

W-nhà ở xã hội 005.png
ThS. Đặng Tiến Long cho rằng cần chuyển từ tư duy “xây được bao nhiêu căn” sang “xây cho ai”.

Cần chuyển từ xây được bao nhiêu căn sang xây cho ai

Từ góc độ chính sách nhà ở cho người lao động, ThS. Đặng Tiến Long cho rằng cần chuyển trọng tâm từ xây thêm bao nhiêu căn sang xác định rõ xây cho ai, ở đâu và theo hình thức nào.

Theo ông Long, Luật Nhà ở 2023 đã dành riêng một chương cho nhà ở xã hội; Nghị quyết 201/2025/QH15 cũng đưa ra các cơ chế mới như Quỹ nhà ở quốc gia và rút ngắn quy trình lựa chọn chủ đầu tư.

Ông Long nhận định thuê nhà phù hợp với người lao động chưa có kế hoạch cư trú lâu dài, nhưng chưa hấp dẫn nhà đầu tư do chi phí dồn vào giai đoạn đầu, trong khi doanh thu thu dần qua nhiều năm. Nguồn cung cũng không chỉ từ các dự án nhà ở xã hội mà còn có hệ thống phòng trọ, nhà cho thuê của hộ gia đình với quy mô lớn.

Do đó, trước khi triển khai dự án cần khảo sát khả năng chi trả, vị trí việc làm và khoảng cách đi lại, nhu cầu mua - thuê, cùng kế hoạch cư trú trung hạn. Ông đề xuất hỗ trợ trực tiếp tiền thuê cho người lao động đủ điều kiện, đồng thời chỉnh trang nhà trọ hiện hữu để bổ sung nguồn cung, với điều kiện phù hợp quy hoạch, bảo đảm hạ tầng và an toàn.

Nhu cầu nhà ở xã hội tại Việt Nam đang ở mức rất lớn, nhưng khả năng chuyển hóa nhu cầu thành hồ sơ thực tế lại thấp. Khảo sát được công bố tại hội thảo Nghiên cứu phát triển chính sách tạo lập thị trường nhà ở xã hội tại Việt Nam cho thấy 92% người có nhu cầu mua chưa từng nộp hồ sơ, chủ yếu vì ngại thủ tục phức tạp và cho rằng cơ hội được xét duyệt không cao. Dựa trên số liệu năm 2024 của Tổng cục Thống kê và tỷ lệ đô thị hóa do Bộ Xây dựng công bố, PGS.TS Trần Thị Hồng Liên ước tính cả nước có khoảng 7,04 triệu hộ cần nhà ở xã hội nếu xét theo khả năng kinh tế. Sau khi điều chỉnh theo cơ cấu thu nhập và tỷ lệ hộ đô thị, tổng cầu thực tế còn khoảng 3,12 triệu hộ, tương ứng 3,12 triệu căn và 155,94 triệu m2 sàn. Theo bà Liên, cảm nhận về tính khả thi của quy trình xét duyệt tác động đến ý định mua thậm chí mạnh hơn yếu tố giá, cho thấy điểm nghẽn không chỉ nằm ở khả năng tài chính. Người dân không thờ ơ với nhà ở xã hội, nhưng rào cản tâm lý, sự thiếu rõ ràng về quyền lợi, điều kiện và khả năng tiếp cận khiến nhiều người không bắt đầu thủ tục, vì vậy chính sách cần đi kèm truyền thông và quy trình dễ sử dụng hơn. PGS.TS Hoàng Công Gia Khánh cho rằng cần mở rộng cách tiếp cận từ nhà ở xã hội sang nhà ở vừa túi tiền để lấp khoảng trống giữa nhóm đủ điều kiện hưởng chính sách và nhóm có thể mua nhà thương mại. Về dài hạn, nhóm nghiên cứu đề xuất thị trường ba tầng gồm nhà ở xã hội cho thuê có Nhà nước hỗ trợ, nhà ở thương mại vừa túi tiền với giá gắn theo thu nhập địa phương và nhà ở thương mại không hạn chế thu nhập, đồng thời liên thông VNeID với cơ sở dữ liệu quốc gia về nhà ở xã hội.