Bỏ qua điều hướng
•

Mẹ nhiễm viêm gan B, 90% trẻ sơ sinh có thể thành bệnh nhân mạn tính

Mẹ nhiễm viêm gan B, 90% trẻ sơ sinh có thể thành bệnh nhân mạn tính
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Khi người trưởng thành nhiễm vi rút viêm gan B (HBV), nguy cơ chuyển thành nhiễm mạn tính chỉ khoảng 2-5%. Trong khi đó, trẻ sơ sinh nhiễm HBV từ mẹ có nguy cơ chuyển thành nhiễm mạn tính lên tới 85-90%.

Mẹ nhiễm viêm gan B, 90% trẻ sơ sinh có thể thành bệnh nhân mạn tính - Ảnh 2.

Bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai thăm khám cho sản phụ - Ảnh: BVCC

Biết nhiễm viêm gan B nhưng vẫn chủ quan

Ở tuần thai thứ 34, một phụ nữ 32 tuổi ở Hưng Yên phải nhập Viện Y học nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai trong tình trạng mệt mỏi, vàng da, vàng mắt tăng dần, ăn uống kém.

Người bệnh đã biết mình nhiễm viêm gan B nhiều năm nhưng không điều trị. Chồng chị cũng mắc viêm gan B. Trong thời gian dài, cả hai gần như không có biểu hiện bất thường nên không đi khám và theo dõi thường xuyên.

Khoảng ba ngày trước khi nhập viện, chị bắt đầu mệt nhiều, ăn kém, da vàng, nước tiểu vàng sẫm. Xét nghiệm tại cơ sở y tế cho thấy men gan tăng cao, người bệnh được chuyển đến Bệnh viện Bạch Mai.

Tại đây, các bác sĩ xác định người bệnh đang có đợt viêm gan B tiến triển ở giai đoạn cuối thai kỳ. Tỉ lệ prothrombin chỉ còn 57%, cho thấy chức năng đông máu đã giảm. Người bệnh phải được theo dõi sát nguy cơ rối loạn đông máu, chảy máu, suy gan và các biến chứng nặng khác, đồng thời bảo đảm an toàn cho thai nhi.

Theo bác sĩ Nguyễn Thị Thu Trang - khoa viêm gan vi rút, Viện Y học nhiệt đới Bạch Mai, phụ nữ mang thai nhiễm HBV cần được quản lý chặt chẽ để vừa bảo vệ sức khỏe người mẹ, vừa giảm nguy cơ lây truyền vi rút cho trẻ.

Nguy cơ lây truyền HBV từ mẹ sang con tăng rõ rệt khi người mẹ có tải lượng vi rút cao. Vì vậy, thai phụ cần được đánh giá để bác sĩ xác định hướng điều trị cho mẹ và biện pháp dự phòng cho trẻ.

Trường hợp người phụ nữ 32 tuổi trên cũng cho thấy người mang HBV không có triệu chứng không đồng nghĩa bệnh đã ổn định. 

Hoạt động của vi rút và tình trạng tổn thương gan có thể thay đổi theo thời gian, đặc biệt trong những giai đoạn cơ thể có nhiều biến đổi như thai kỳ.

Các bác sĩ lưu ý nhiều người biết mình nhiễm viêm gan B nhưng không duy trì việc khám, xét nghiệm định kỳ vì cảm thấy cơ thể vẫn khỏe.

Việc bỏ theo dõi có thể khiến những thay đổi của bệnh không được phát hiện kịp thời, đồng thời bỏ lỡ thời điểm cần điều trị hoặc thực hiện các biện pháp dự phòng lây truyền cho con.

Nhiễm HBV càng sớm, nguy cơ thành mạn tính càng cao

Điều đáng lo ngại của lây truyền HBV từ mẹ sang con là trẻ có thể hoàn toàn khỏe mạnh, không có triệu chứng rõ ràng trong thời gian đầu nhưng vi rút vẫn tồn tại trong cơ thể.

Theo WHO và CDC, nguy cơ chuyển từ nhiễm HBV cấp tính sang nhiễm mạn tính phụ thuộc rất lớn vào tuổi nhiễm vi rút. Người càng nhỏ tuổi khi nhiễm HBV thì nguy cơ trở thành người mang vi rút mạn tính càng cao.

Ở người trưởng thành, nguy cơ chuyển thành nhiễm HBV mạn tính thường dưới 5%. Ngược lại, với trẻ sơ sinh nhiễm HBV, nguy cơ này có thể lên tới 85-90%.

Như vậy, một lần lây truyền HBV trong giai đoạn sơ sinh có thể khiến trẻ mang vi rút trong nhiều thập kỷ. Nếu không được phát hiện và quản lý phù hợp, nhiễm HBV mạn tính có thể dẫn đến viêm gan mạn, xơ gan và ung thư gan.

TS Đỗ Văn Thành, Trưởng khoa viêm gan vi rút, Phó viện trưởng Viện Y học nhiệt đới Bạch Mai, cho rằng lây truyền HBV từ mẹ sang con không chỉ là vấn đề của một thai phụ hay một gia đình.

Nếu trẻ nhiễm HBV và trở thành người mang vi rút mạn tính, về sau trẻ có thể tiếp tục truyền vi rút cho bạn đời hoặc thế hệ tiếp theo. Do đó, kiểm soát lây truyền từ mẹ sang con là một trong những mắt xích quan trọng để hạn chế sự lưu hành của HBV trong cộng đồng.

Các bác sĩ khuyến cáo viêm gan B có thể được chủ động phòng ngừa lây truyền từ mẹ sang con nếu thai phụ được phát hiện sớm và thực hiện đầy đủ các biện pháp dự phòng.

Theo khuyến cáo của WHO và Bộ Y tế, dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con cần được thực hiện theo một chuỗi biện pháp, gồm sàng lọc HBV ở thai phụ, đánh giá tải lượng vi rút và tình trạng bệnh của người mẹ, điều trị kháng vi rút khi có chỉ định, đồng thời tiêm vắc xin viêm gan B cho trẻ ngay sau sinh.

Với trẻ có mẹ nhiễm HBV, việc phối hợp vắc xin viêm gan B và globulin miễn dịch viêm gan B (HBIG) theo chỉ định là một biện pháp quan trọng nhằm giảm nguy cơ trẻ bị nhiễm vi rút.

Mẹ nhiễm viêm gan B, 90% trẻ sơ sinh có thể thành bệnh nhân mạn tính - Ảnh 3.Bác sĩ hướng dẫn những điểm mới nhất năm 2026 về bệnh viêm gan B

Theo ước tính mới nhất của Tổ chức Y tế Thế giới, hiện có khoảng 240 triệu người sống chung với viêm gan B mạn và đã có khoảng 1,1 triệu người tử vong, chủ yếu do xơ gan và ung thư gan.

Nguy cơ lây truyền vi rút viêm gan B (HBV) từ mẹ sang con đang đặt ra những thách thức lớn cho công tác chăm sóc sức khỏe thai kỳ và sơ sinh. Theo thống kê y tế từ WHO và CDC, nguy cơ chuyển sang nhiễm HBV mạn tính ở người trưởng thành chỉ dưới 5%, trong khi tỷ lệ này ở trẻ sơ sinh lây nhiễm từ mẹ lên tới 85 đến 90%. Việc trẻ nhiễm vi rút ngay từ giai đoạn đầu đời có thể dẫn đến tình trạng mang HBV mạn tính suốt nhiều thập kỷ, làm tăng đáng kể nguy cơ tiến triển thành viêm gan mạn, xơ gan và ung thư gan về sau. Thực tế lâm sàng tại Viện Y học nhiệt đới thuộc Bệnh viện Bạch Mai vừa ghi nhận trường hợp một sản phụ 32 tuổi ngụ tại Hưng Yên nhập viện ở tuần thai thứ 34 trong tình trạng suy giảm chức năng gan nghiêm trọng. Dù đã phát hiện nhiễm vi rút nhiều năm, cả hai vợ chồng thai phụ đều chủ quan không theo dõi và điều trị định kỳ do cơ thể không có triệu chứng bất thường. Khi nhập viện cấp cứu với biểu hiện mệt mỏi và vàng da diện rộng, xét nghiệm cho thấy men gan tăng rất cao và tỉ lệ prothrombin giảm xuống còn 57%, buộc các bác sĩ phải theo dõi sát nguy cơ suy gan và rối loạn đông máu. Các chuyên gia y tế nhận định người mang vi rút HBV không có triệu chứng lâm sàng hoàn toàn không đồng nghĩa với việc tình trạng bệnh lý đã ổn định. Mức độ tổn thương gan và sự hoạt động của vi rút có thể thay đổi nhanh chóng, đặc biệt trong những giai đoạn cơ thể có sự biến đổi sinh lý lớn như thời kỳ mang thai. Bác sĩ Nguyễn Thị Thu Trang và Tiến sĩ Đỗ Văn Thành từ Viện Y học nhiệt đới khuyến cáo thai phụ cần thực hiện xét nghiệm đánh giá tải lượng vi rút đúng thời điểm để bác sĩ chủ động chỉ định phác đồ điều trị cho mẹ và áp dụng biện pháp dự phòng hiệu quả cho trẻ ngay sau khi sinh.