Năm 1993, một năm sau khi lập gia đình, bà Nguyễn Kim Thùy, nay 52 tuổi, ở xã Thạnh Hòa, bắt đầu nuôi cá trê lai trong con mương bỏ trống sau nhà chồng. Khi đó, gia đình chủ yếu làm ruộng, vườn, không có vốn đầu tư.
Bà mượn sổ đỏ của ông nội chồng để vay ngân hàng 2,5 triệu đồng mua cá giống, thức ăn. Ba tháng sau, lứa cá đầu tiên bán được 6 triệu đồng. Trả lại sổ đỏ, bà dùng tiền còn lại tiếp tục nuôi cá.
Thấy nghề nuôi cá hiệu quả hơn trồng lúa, vợ chồng bà mượn đất cha mẹ ruột đào ao mở rộng sản xuất. Không có tiền thuê máy móc, hai người tự đào bằng tay, mỗi ao mất nhiều tháng mới hoàn thành. Về sau, họ hàng tiếp tục cho mượn ao, không lấy tiền thuê.
Việc nuôi cá thuận lợi, bà dốc vốn tích lũy, vay thêm ngân hàng hơn 500 triệu đồng để mở rộng quy mô. Tuy nhiên, khi các ao nuôi ngày càng nhiều, dịch bệnh bùng phát khiến cá chết hàng loạt, gia đình gần như mất trắng.
Bà Nguyễn Kim Thùy cho cá thát lát ăn. Ảnh: An Minh
Đến kỳ đáo hạn, ngân hàng không tiếp tục cho vay, bà phải chạy vạy vay mượn bên ngoài để trả nợ. Giữa lúc khó khăn, nhiều người thân mang sổ đỏ đến cho bà thế chấp vay vốn, có người đưa cả vàng giúp gia đình xoay xở.
"Những ân tình đó mãi mãi tôi không bao giờ quên được", bà Thùy nói, cho biết chính sự giúp đỡ của người thân khiến bà không bỏ cuộc.
Sau khi trả hết nợ bên ngoài, bà tìm kế sinh nhai khác để nuôi con ăn học. Ban đầu định mở quán cà phê, bà sau đó chuyển sang kinh doanh quán ăn chuyên các món chế biến từ cá.
Khách yêu cầu món gì, bà tìm cách học và chế biến món đó. Dần dần, chả cá thát lát, cá thát lát rút xương tẩm gia vị trở thành những món được ưa chuộng. Nhiều thực khách mua về, đặt làm tiệc rồi giới thiệu cho người quen.
Có thời điểm, quán phục vụ 30-40 bàn khách mỗi ngày, nhưng công việc kéo dài từ sáng đến tối khiến bà nhiều lần kiệt sức. Năm 2014, vợ chồng quyết định chuyển hướng. Người chồng sang TP HCM thu mua cá tại chợ Bình Điền, còn bà thử kinh doanh cá rô nhưng thua lỗ khoảng 200 triệu đồng.
Không bỏ nghề cá, bà chuyển sang thu mua cá thát lát. Năm 2015, khi giá loại cá này giảm mạnh, chứng kiến nhiều hộ nuôi lao đao vì đầu ra bấp bênh, bà nảy ý định chế biến sản phẩm thay vì chỉ bán cá nguyên liệu.
Cùng năm, bà đăng ký thương hiệu cá thát lát Kỳ Như, đầu tư bao bì, xét nghiệm mẫu và công bố sản phẩm. Những mặt hàng đầu tiên gồm cá thát lát nạo, chả cá và cá tẩm gia vị.
Nhân công sơ chế cá thát lát tại hợp tác xã. Ảnh: An Minh
Nhận thấy người cao tuổi, trẻ em gặp khó khăn khi ăn cá nhiều xương, bà nghiên cứu thêm sản phẩm cá thát lát rút xương. Bà thử nhiều cách chế biến, cho khách dùng thử, điều chỉnh công thức trước khi đưa ra thị trường.
Những ngày đầu, bà tự mang hàng đến cửa hàng đặc sản, siêu thị, hội chợ, chợ đầu mối và nhà hàng để chào bán. Đối tác còn dè dặt, mỗi lần chỉ đặt số lượng nhỏ.
Năm 2018, sau chuyến tham quan, học hỏi mô hình sản phẩm OCOP tại Bến Tre, bà định hướng xây dựng chuỗi sản xuất từ vùng nuôi đến chế biến, tiêu thụ, thay vì chỉ kinh doanh sản phẩm riêng lẻ.
Một năm sau, Hợp tác xã Kỳ Như được thành lập với 11 thành viên. Đến nay, số thành viên tăng lên 56 người, vùng nuôi khoảng 16 ha, trong đó gia đình bà Thùy có 5 ha.
Hợp tác xã cung ứng con giống, hướng dẫn kỹ thuật và bao tiêu cá cho thành viên, với giá thu mua thường cao hơn thị trường 2.000-10.000 đồng mỗi kg. Nhờ đó, người nuôi có đầu ra ổn định hơn, còn hợp tác xã chủ động nguồn nguyên liệu chế biến.
Mỗi năm, các thành viên sản xuất khoảng 1.000 tấn cá thát lát, trong đó khoảng 40% được chế biến, phần còn lại cung ứng ra thị trường. Quy trình sản xuất được kiểm soát từ con giống, nguồn nước, thức ăn đến sử dụng thuốc thú y nhằm đảm bảo chất lượng.
Từ những món ăn bán thử tại quán, thương hiệu Kỳ Như hiện có 11 sản phẩm đạt chuẩn OCOP, gồm 10 sản phẩm 4 sao và một sản phẩm 5 sao cấp quốc gia là cá thát lát rút xương tẩm gia vị.
Sản phẩm được phân phối tại khoảng 20 tỉnh, thành, có mặt trong các hệ thống siêu thị và xuất khẩu sang Mỹ, Hàn Quốc. Hợp tác xã đạt doanh thu khoảng 28 tỷ đồng mỗi năm, lợi nhuận vài tỷ đồng.
Đầu năm 2026, bà Thùy tiếp tục thử nghiệm mô hình nuôi cá thát lát trên cạn bằng bể nổi, kết hợp hệ thống lọc và xử lý nước. Mỗi bể có chu vi 9 m, cao 2,5 m, có thể nuôi khoảng 5,5 tấn cá. Theo bà, mô hình giúp kiểm soát môi trường nuôi, hạn chế dịch bệnh và phù hợp với hộ ít đất sản xuất.
Song song đó, hợp tác xã đầu tư máy móc cho nhiều công đoạn chế biến, từ đánh vảy, tách xương đến quết chả, đóng gói. Tuy nhiên, một số khâu vẫn kết hợp làm thủ công để tạo việc làm cho phụ nữ địa phương.
Hiện hợp tác xã có khoảng 40-50 lao động thường xuyên, cao điểm lên đến 70 người, phần lớn là phụ nữ, thu nhập bình quân 7 triệu đồng mỗi tháng. Người lao động được tham gia các chế độ bảo hiểm theo quy định.
Từng nhiều lần rơi vào cảnh thiếu vốn, nợ nần, bà Thùy cho rằng thành quả lớn nhất không chỉ là doanh thu, mà còn là giúp các hộ nuôi cá có đầu ra và tạo việc làm cho người dân ngay tại quê nhà.
Bà là một trong 96 nông dân được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam vinh danh trong chương trình Nông dân Việt Nam xuất sắc 40 năm đổi mới.
An Minh