Bỏ qua điều hướng
•

Mỹ có thể đưa máy bay ném bom đến đâu nếu không còn căn cứ ở Anh?

Mỹ có thể đưa máy bay ném bom đến đâu nếu không còn căn cứ ở Anh?
Nguồn ảnh: VTC News

Việc Mỹ rút B-1 khỏi RAF Fairford cho thấy sức mạnh của máy bay ném bom chiến lược không chỉ nằm ở nơi chúng đóng quân, mà còn ở khả năng xuất kích từ rất xa.

Chưa mất khả năng tấn công

Khoảng một chục máy bay ném bom B-1B Lancer của Mỹ đã rời căn cứ RAF Fairford ở miền Tây nước Anh và bay trở về Mỹ, trong bối cảnh Washington lo ngại nguy cơ tấn công nhằm vào căn cứ này.

Theo hãng tin Al Jazeera, Fairford cách London khoảng 160km, là sân bay quân sự duy nhất của Mỹ tại châu Âu được sử dụng làm căn cứ tiền phương cho máy bay ném bom hạng nặng. Thời gian qua, B-1 và B-52 tại đây đóng vai trò quan trọng trong hoạt động quân sự của Mỹ liên quan đến Iran.

Reuters cho biết, việc rút B-1 xảy ra sau khi giới chức Mỹ nhận được thông tin về một âm mưu có thể sử dụng thiết bị bay không người lái (drone) tấn công căn cứ. Cảnh sát Anh đã bắt giữ một số người trong cuộc điều tra, trong khi Iran phủ nhận liên quan.

Nhưng điều đáng chú ý nằm ở chỗ: Mỹ rút máy bay khỏi một căn cứ không đồng nghĩa Washington mất khả năng triển khai máy bay ném bom tới khu vực. Đó chính là lợi thế lớn nhất của lực lượng ném bom chiến lược Mỹ.

Máy bay AB-1B Lancer tại căn cứ không quân RAF Fairford, Gloucestershire, Anh. Ảnh Reuters

Máy bay AB-1B Lancer tại căn cứ không quân RAF Fairford, Gloucestershire, Anh. Ảnh Reuters

5 căn cứ trên đất Mỹ là “ngôi nhà” thực sự

Theo Không quân Mỹ, các máy bay ném bom chiến lược hiện được bố trí chủ yếu tại 5 căn cứ ở lục địa Mỹ.

B-52H Stratofortress được triển khai tại Barksdale ở Louisiana và Minot ở Bắc Dakota. B-1B Lancer đóng tại Dyess ở Texas và Ellsworth ở Nam Dakota, trong khi B-2 Spirit đặt tại Whiteman ở Missouri. B-21 Raider dự kiến bắt đầu được triển khai tại Ellsworth từ năm 2027.

Cách bố trí này tạo ra một nghịch lý thú vị. Nhìn trên bản đồ, những căn cứ này nằm cách xa phần lớn các điểm nóng quân sự của Mỹ. Nhưng khoảng cách địa lý không đồng nghĩa với việc máy bay không thể tham chiến.

B-52 có tầm bay chiến đấu không tiếp dầu vượt 14.000km, trong khi B-1 có khả năng thực hiện nhiệm vụ liên lục địa. B-2 được thiết kế cho các nhiệm vụ tầm xa với khả năng tàng hình. Nhờ máy bay tiếp dầu, B-1, B-2 hoặc B-52 có thể thực hiện các nhiệm vụ kéo dài hàng chục giờ từ lãnh thổ Mỹ.

Al Jazeera dẫn thông tin cho biết trong các nhiệm vụ liên quan đến Iran, một số chuyến của máy bay ném bom Mỹ kéo dài hơn 30 giờ cả đi và về, với mỗi nhóm 3 máy bay cần khoảng 6-9 máy bay tiếp dầu hỗ trợ.

Bản đồ bố trí các căn cứ máy bay ném bom chiến lược của Mỹ. Ảnh: US Air Force

Bản đồ bố trí các căn cứ máy bay ném bom chiến lược của Mỹ. Ảnh: US Air Force

Tại sao Mỹ vẫn cần căn cứ ở nước ngoài?

Nếu máy bay có thể bay từ Mỹ tới chiến trường, thì Washington duy trì các căn cứ tiền phương để làm gì?

Câu trả lời nằm ở thời gian, nhịp độ và hậu cần. Đặt máy bay gần khu vực tác chiến giúp rút ngắn thời gian tiếp cận, giảm một phần nhu cầu tiếp dầu và tạo điều kiện thực hiện nhiều chuyến bay hơn trong cùng khoảng thời gian.

Al Jazeera dẫn các chuyên gia nhận định việc rút B-1 khỏi Fairford không loại bỏ năng lực tấn công của Mỹ nhưng có thể làm giảm khả năng nhanh chóng tăng số chuyến xuất kích và duy trì một chiến dịch không kích kéo dài.

Nói cách khác, Fairford không phải “cánh tay” duy nhất của Mỹ nhưng là một cánh tay đặt khá gần chiến trường. Mất vị trí đó, Washington vẫn có thể vươn tới mục tiêu nhưng cái giá về thời gian bay, tiếp dầu, bảo dưỡng và sức ép lên phi hành đoàn sẽ tăng lên.

Không phải máy bay ném bom luôn nằm ở căn cứ cố định

Mỹ còn sử dụng một phương thức khác: Bomber Task Force, tức các đợt triển khai máy bay ném bom tới căn cứ của đồng minh trong thời gian giới hạn.

Theo Al Jazeera, những đợt luân phiên gần đây từng đưa B-52 tới Morón ở Tây Ban Nha, B-1 tới Ørland ở Na Uy và Misawa ở Nhật Bản; B-52 cũng được triển khai tới Tindal ở miền Bắc Australia. Điều này tạo ra một mạng lưới linh hoạt hơn nhiều so với việc duy trì một phi đội lớn thường trực ở nước ngoài.

Không quân Mỹ cũng xác định lực lượng ném bom có nhiệm vụ triển khai tới bất kỳ khu vực nào trên thế giới, đồng thời thường xuyên tổ chức các đợt triển khai để duy trì khả năng hoạt động cùng đồng minh. Vì vậy, vị trí của một chiếc B-52 hoặc B-1 trên bản đồ hôm nay không nhất thiết cho biết nó sẽ ở đó vào tuần sau.

Một chiếc máy bay B-52 Stratofortress cất cánh từ căn cứ không quân RAF Fairford vào ngày 19/3/2026. Ảnh: Getty Images

Một chiếc máy bay B-52 Stratofortress cất cánh từ căn cứ không quân RAF Fairford vào ngày 19/3/2026. Ảnh: Getty Images

B-1, B-2 và B-52: 3 cách khác nhau để tạo sức ép

Ba loại máy bay ném bom hiện tại của Mỹ cũng không hoàn toàn giống nhau.

B-52H là loại lâu đời nhất nhưng vẫn giữ vai trò quan trọng. Mẫu B-52H được phát triển từ những năm 1960, có sải cánh khoảng 56m và khả năng mang khoảng 31 tấn vũ khí, gồm bom và tên lửa hành trình.

B-1B Lancer nhanh hơn, có thể đạt khoảng Mach 1,2 và mang tải trọng vũ khí thông thường khoảng 34 tấn, lớn nhất trong ba loại. B-1 hiện không còn đảm nhiệm nhiệm vụ mang vũ khí hạt nhân.

Trong khi đó, B-2 Spirit được thiết kế theo cấu hình cánh bay và khả năng tàng hình, cho phép thực hiện các nhiệm vụ mà khả năng sống sót trước hệ thống phòng không là yếu tố đặc biệt quan trọng. Chỉ có 20 chiếc B-2 được chế tạo và 19 chiếc còn lại đang phục vụ theo Al Jazeera.

Thế hệ tiếp theo là B-21 Raider, đang trong quá trình thử nghiệm và dự kiến bắt đầu được bàn giao từ năm 2027. Về lâu dài, B-21 sẽ cùng B-52 nâng cấp trở thành lực lượng ném bom chủ lực của Mỹ.

Căn cứ càng gần, rủi ro càng lớn

Vụ Fairford cho thấy một vấn đề ngày càng rõ trong chiến tranh hiện đại: một căn cứ không quân tiền phương vừa là lợi thế, vừa là điểm yếu.

Căn cứ càng gần khu vực tác chiến, máy bay càng dễ triển khai nhanh. Nhưng đồng thời, căn cứ cũng nằm gần hơn với tên lửa, drone và các phương tiện tấn công tầm xa của đối phương.

Đó là lý do Mỹ có xu hướng kết hợp nhiều tầng: căn cứ chính ở lãnh thổ Mỹ, căn cứ tiền phương của đồng minh, các đợt triển khai luân phiên và khả năng bay thẳng từ Mỹ với sự hỗ trợ của máy bay tiếp dầu.

Việc B-1 rời Fairford vì thế không nên chỉ được nhìn như một sự rút lui. Nó cho thấy Mỹ đang đặt cược vào khả năng phân tán lực lượng: Nếu một căn cứ trở nên quá nguy hiểm, máy bay có thể chuyển sang nơi khác mà năng lực tấn công tầm xa vẫn được duy trì.

Và đó có lẽ mới là điểm đáng chú ý nhất trên bản đồ máy bay ném bom Mỹ: Washington không nhất thiết phải đặt máy bay ngay cạnh đối thủ để chứng minh rằng chúng có thể tấn công đối thủ.

Lê Hưng
Việc Mỹ rút khoảng 10 máy bay ném bom B-1B Lancer khỏi căn cứ RAF Fairford ở Anh về nước sau cảnh báo nguy cơ bị tập kích bằng thiết bị bay không người lái không làm suy giảm năng lực răn đe toàn cầu của Washington. Sân bay quân sự này từng là cứ điểm tiền phương duy nhất của Mỹ tại châu Âu dành cho oanh tạc cơ hạng nặng phục vụ các chiến dịch liên quan đến Iran. Tuy nhiên, sức mạnh cốt lõi của lực lượng không quân chiến lược Mỹ vốn không phụ thuộc hoàn toàn vào những vị trí đồn trú ở nước ngoài. Trụ cột thực sự của phi đội ném bom chiến lược Mỹ nằm tại 5 căn cứ lớn trên lục địa, bao gồm Barksdale, Minot, Dyess, Ellsworth và Whiteman. Các dòng máy bay như B-52H sở hữu tầm bay không cần tiếp dầu vượt 14.000 km, trong khi B-1B và B-2 Spirit đều có khả năng thực hiện nhiệm vụ tác chiến liên lục địa. Nhờ mạng lưới máy bay tiếp dầu quy mô lớn, các biên đội oanh tạc cơ hoàn toàn có thể xuất kích trực tiếp từ lãnh thổ Mỹ trong những hành trình bay khứ hồi kéo dài hơn 30 giờ. Dù vậy, căn cứ tiền phương như RAF Fairford vẫn mang lại những lợi thế chiến thuật rõ rệt về thời gian phản ứng, nhịp độ tấn công và bài toán hậu cần. Việc bố trí lực lượng gần điểm nóng giúp giảm bớt nhu cầu tiếp dầu trên không và duy trì mật độ xuất kích liên tục trong các chiến dịch quy mô lớn. Rời bỏ căn cứ ở Anh có thể làm giảm tính linh hoạt tức thì, song Washington vẫn duy trì đầy đủ năng lực vươn tới mọi mục tiêu từ các căn cứ nằm sâu trong lục địa Mỹ.
amung