Bỏ qua điều hướng
•

Nâng chất lượng đào tạo bác sĩ nội trú

Nâng chất lượng đào tạo bác sĩ nội trú
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Đào tạo bác sĩ nội trú chất lượng để tăng nguồn bác sĩ chuyên khoa sâu và nâng cao năng lực điều trị của hệ thống y tế.

Đào tạo bác sĩ nội trú là mô hình kết hợp chặt chẽ trường - viện. Trong đó, trường quản lý chương trình đào tạo, tuyển sinh, giảng dạy lý thuyết và đánh giá học thuật; bệnh viện (BV) là môi trường thực hành, nơi bác sĩ nội trú trực tiếp khám, điều trị và chăm sóc người bệnh dưới sự hướng dẫn của BS chuyên khoa. Sự phối hợp trường - viện giúp bác sĩ nội trú (BSNT) vừa vững kiến thức, vừa thành thạo kỹ năng, đáp ứng yêu cầu thực tiễn khám chữa bệnh.

Tuy nhiên, bên cạnh việc mở rộng quy mô đào tạo, thực tế tuyển sinh cũng cho thấy sự chênh lệch lớn giữa các chuyên ngành. Đây là vấn đề đặt ra yêu cầu vừa bảo đảm chất lượng đào tạo, vừa định hướng nguồn nhân lực theo nhu cầu của hệ thống y tế.

Nâng chất lượng đào tạo bác sĩ nội trú - Ảnh 1.

Các bác sĩ nội trú phụ mổ và quan sát, học tập trong một ca mổ

ẢNH: DUY TÍNH

Ngành thu hút, ngành đìu hiu

Tại TP.HCM hiện có 3 trường đại học (ĐH) y khoa đào tạo chương trình BSNT gồm ĐH Y Dược TP.HCM, Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch và Trường ĐH Khoa học sức khỏe (ĐH Quốc gia TP.HCM).

Tại ĐH Y Dược TP.HCM, chương trình BSNT được triển khai ở ba ngành chính là y khoa, răng hàm mặt và y học cổ truyền. Trong đó, phần lớn BSNT tập trung ở ngành y khoa. Với ngành y khoa, quy mô tuyển sinh những năm gần đây có xu hướng tăng. Năm 2021 có 163 BSNT nhập học, trong đó 3 BS tốt nghiệp trễ hạn. Năm 2022 có 183 BS nhập học, với 6 BS tốt nghiệp trễ hạn. PGS-TS Trần Công Thắng, Phó hiệu trưởng Trường Y thuộc ĐH Y Dược TP.HCM, cho biết tỷ lệ BSNT hoàn thành chương trình đúng hạn của hai khóa này ở mức khá cao, khoảng 97 - 98%. Từ năm 2023, quy mô tuyển sinh tiếp tục tăng, với 218 BSNT nhập học năm 2023; 239 BS năm 2024 và 234 BS năm 2025.

Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch bắt đầu đào tạo BSNT từ năm 2011 và hiện được Bộ Y tế cho phép đào tạo 11 chuyên ngành. Giai đoạn 2021 - 2025, bình quân mỗi năm trường đào tạo khoảng 120 BSNT. Tuy nhiên, số liệu tuyển sinh cho thấy sự chênh lệch rõ giữa các chuyên ngành. Trong hai năm qua, nhãn khoa có số lượng đăng ký BSNT cao nhất với 20 BS, tiếp đến là nhi khoa, sản phụ khoa, chẩn đoán hình ảnh, ngoại tổng quát, tai mũi họng... Nhưng một số chuyên ngành rất khó thu hút người học. Theo kế hoạch tuyển sinh năm 2026 nhà trường đã báo cáo Bộ Y tế, ngành truyền nhiễm chỉ có 1 BS đăng ký; trong khi y học gia đình, dù được phép đào tạo từ năm 2025, nhưng chưa có người học. Trong giai đoạn 2014 - 2025, Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch có 739 BSNT tốt nghiệp, đạt tỷ lệ 97,4%.

Nâng chất lượng đào tạo bác sĩ nội trú - Ảnh 2.

Trong 3 năm đào tạo, bác sĩ nội trú vừa trang bị kiến thức lý thuyết, vừa thực hành lâm sàng

ẢNH: LÊ CẦM

Theo PGS-TS Trần Công Thắng, bức tranh tuyển sinh BSNT phản ánh khá rõ thực trạng nhân lực y tế. Các chuyên ngành "hot" như nội khoa, ngoại khoa, sản phụ khoa, nhi khoa, mắt, tai mũi họng thường có tỷ lệ đăng ký cao. Ngược lại, tâm thần, lao, nhiễm, hồi sức cấp cứu, gây mê hồi sức và ngoại nhi vẫn gặp khó khăn trong thu hút BSNT. "Đây cũng là những lĩnh vực cần được quan tâm trong chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chuyên khoa trong thời gian tới", ông Thắng nhận định.

Lãnh đạo Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch cho rằng nhà trường định hướng BS trẻ lựa chọn chuyên ngành phù hợp với năng lực, sở trường và nguyện vọng, đồng thời tính đến nhu cầu nhân lực của hệ thống y tế.

Tăng số lượng, phải kiểm soát chất lượng

Quy mô tuyển sinh tăng đặt ra yêu cầu đi cùng với kiểm soát chất lượng đào tạo. Theo PGS-TS Trần Công Thắng, các khóa BSNT mới vẫn đang trong quá trình đào tạo nên chưa thể đánh giá đầy đủ tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn. Một số trường hợp phải kéo dài thời gian hoặc bảo lưu vì lý do cá nhân, chuyên môn, nhưng tỷ lệ này nhìn chung rất thấp.

Việc siết đào tạo trước hết thể hiện ở các yêu cầu học thuật. Theo quy chế, các học phần chuyên ngành bắt buộc phải đạt từ 7 điểm trở lên và người học chỉ có tối đa 2 lần thi để sửa sai. Không vượt qua ngưỡng yêu cầu có thể dẫn đến nguy cơ bị loại khỏi chương trình. Một số BSNT cũng phải bảo lưu hoặc kéo dài thời gian học do đi tu nghiệp nước ngoài, hoàn cảnh gia đình hoặc điều kiện kinh tế. Tuy nhiên, theo PGS-TS Trần Công Thắng, tại ĐH Y Dược TP.HCM, trường hợp BSNT phải ngừng chương trình vì khó khăn kinh tế gần như không xảy ra nhờ sự hỗ trợ của nhà trường.

Còn theo lãnh đạo Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch, đánh giá chất lượng đào tạo BSNT không thể chỉ dựa vào số lượng tốt nghiệp mà cần xem xét năng lực thực hành, khả năng đáp ứng công việc, kết quả việc làm sau tốt nghiệp và phản hồi của các BV sử dụng nhân lực. Nếu nhà trường chịu trách nhiệm về chương trình và yêu cầu học thuật, BV thực hành giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành năng lực nghề nghiệp của BSNT.

Chất lượng đào tạo phụ thuộc lớn vào sự phối hợp giữa chương trình của nhà trường với hoạt động hướng dẫn, giám sát thực hành tại BV. Sự phối hợp này cần bao gồm xây dựng kế hoạch luân khoa, phân công người hướng dẫn, bảo đảm cơ hội tiếp cận ca bệnh và kỹ thuật, đánh giá quá trình học tập cũng như phản hồi về năng lực của học viên. Do đó, việc siết đào tạo không chỉ là siết điểm số mà cần tập trung vào năng lực thực hành và trách nhiệm nghề nghiệp. Các nội dung cần kiểm soát gồm thời gian học tập, trực và luân khoa; số lượng ca bệnh và kỹ thuật được thực hiện; mức độ thành thạo; thái độ với người bệnh và khả năng phối hợp trong nhóm điều trị.

PGS-TS Trần Công Thắng cho biết mức độ độc lập của BSNT được xác định dựa trên năng lực thực tế. Chương trình sử dụng bốn mức độ tin cậy để giao công việc chuyên môn, từ quan sát, thực hiện dưới giám sát trực tiếp, thực hiện dưới giám sát gián tiếp đến thực hiện độc lập và có khả năng hướng dẫn người khác.

Ở năm đầu, BSNT cần làm quen với quy trình chuyên môn và môi trường BV nên được giám sát chặt chẽ hơn. Sang năm thứ hai và thứ ba, người học có thể đảm nhận thêm công việc, giải quyết tương đối độc lập những tình huống lâm sàng và cấp cứu thường gặp trong phạm vi năng lực đã được xác nhận. Với ca bệnh phức tạp, nguy cơ cao hoặc vượt quá khả năng, BSNT phải báo cáo và trao đổi với BS giám sát hoặc lãnh đạo khoa.

"Chất lượng BSNT cần được đánh giá xuyên suốt từ tuyển sinh, đào tạo đến năng lực sau tốt nghiệp. Hơn 600 BSNT của ĐH Y Dược TP.HCM đã trở thành lãnh đạo, chuyên gia tại nhiều cơ sở y tế, cho thấy hiệu quả lâu dài của chương trình", PGS-TS Trần Công Thắng nói.

Mặt khác, theo các trường, đào tạo cũng cần gắn với nhu cầu nhân lực, khắc phục tình trạng ngành "hot" dư sức hút trong khi chuyên ngành thiết yếu lại thiếu người. Cần tăng phối hợp giữa trường, BV và địa phương, có chính sách thu hút ngành khó tuyển, đồng thời đầu tư đội ngũ giảng viên, cơ sở thực hành và điều kiện đào tạo.

Hiện có 15 chuyên ngành thuộc nhóm ưu tiên, khó thu hút. Vì vậy, TP.HCM đang triển khai chính sách đặc thù hỗ trợ đào tạo BSNT nhằm tạo nguồn nhân lực y tế chuyên sâu cho hệ thống y tế TP.

Theo Nghị quyết 36 năm 2026 của HĐND TP.HCM, TP hỗ trợ 100% học phí đào tạo BSNT tại các cơ sở đào tạo y khoa công lập, tối đa 100 triệu đồng/người/năm học. Với các chuyên ngành ưu tiên, khó thu hút nhân lực, BSNT còn được hỗ trợ chi phí sinh hoạt.

Chính sách dự kiến hỗ trợ khoảng 400 BSNT/năm, trong đó khoảng 80 người thuộc nhóm chuyên ngành khó thu hút. BS tham gia chính sách phải cam kết làm việc tại các cơ sở y tế công lập trực thuộc Sở Y tế TP.HCM ít nhất 6 năm sau khi được tuyển dụng. Chính sách nhằm gắn đào tạo với nhu cầu nhân lực thực tế, tăng nguồn BS chuyên khoa sâu và nâng cao năng lực điều trị của hệ thống y tế TP.HCM.


Mô hình kết hợp trường viện đóng vai trò then chốt trong công tác đào tạo bác sĩ nội trú, giúp học viên củng cố học thuật đồng thời tôi luyện tay nghề lâm sàng trực tiếp trên bệnh nhân. Dù quy mô tuyển sinh liên tục mở rộng nhằm bổ sung nguồn nhân lực chuyên sâu cho hệ thống y tế, thực tiễn tuyển sinh lại bộc lộ rõ nét sự chênh lệch lớn giữa các chuyên ngành. Tại TP.HCM, ba đơn vị đào tạo chủ lực gồm Đại học Y Dược TP.HCM, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch và Trường Đại học Khoa học sức khỏe ghi nhận tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn đạt mức ấn tượng trên 97%. Tuy nhiên, số liệu thống kê phản ánh sự phân hóa sâu sắc khi các ngành như mắt, sản phụ khoa, nhi khoa hay ngoại tổng quát luôn thu hút đông đảo ứng viên nộp hồ sơ. Ngược lại, những lĩnh vực thiết yếu như truyền nhiễm tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch chỉ có một bác sĩ đăng ký năm 2026, còn ngành y học gia đình chưa có người học. Theo PGS-TS Trần Công Thắng, Phó hiệu trưởng Trường Y thuộc Đại học Y Dược TP.HCM, nghịch lý tuyển sinh phản ánh đúng thực trạng cơ cấu nhân lực y tế hiện nay. Các lĩnh vực đặc thù như tâm thần, lao, nhiễm, hồi sức cấp cứu, gây mê hồi sức và ngoại nhi vẫn chật vật tìm kiếm học viên theo học. Thực trạng mất cân đối này đòi hỏi cơ quan quản lý sớm có chính sách định hướng và đãi ngộ cụ thể để phát triển toàn diện nguồn nhân lực y tế chuyên khoa trong thời gian tới.
amung