LTS - Nhân dịp kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10), phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi ý kiến với đồng chí Phan Thị Thắng, Thứ trưởng Công thương, chung quanh chiến lược chuyển hóa uy tín Thương hiệu Quốc gia thành sức mạnh nội tại cho cộng đồng doanh nghiệp; những đột phá chính sách nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt chuyển dịch từ gia công sang làm chủ thương hiệu, khẳng định vị thế bền vững trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Phóng viên: Thưa đồng chí, các báo cáo định giá thương hiệu uy tín toàn cầu ghi nhận giá trị Thương hiệu Quốc gia Việt Nam (Vietnam Value) đã đạt mốc 519,6 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới và đạt mức tăng trưởng ấn tượng tới 63% sau 5 năm. Tuy nhiên, tổng giá trị của 100 thương hiệu doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam lại ở mức xấp xỉ 38,4 tỷ USD, vậy Bộ Công thương đánh giá như thế nào về “khoảng trống” giữa uy tín quốc gia và sức mạnh cạnh tranh thực tế của các doanh nghiệp trong nước và đâu là những điểm nghẽn?
Thứ trưởng Công thương Phan Thị Thắng: Trước hết, cần nhìn nhận đây không phải là sự mâu thuẫn, mà là hai thước đo ở hai cấp độ khác nhau. Giá trị Thương hiệu Quốc gia phản ánh tổng hợp nhiều yếu tố về uy tín, năng lực cạnh tranh và hình ảnh của cả nền kinh tế; trong khi giá trị thương hiệu doanh nghiệp phản ánh năng lực tạo ra giá trị của từng doanh nghiệp, từng ngành hàng và từng thương hiệu cụ thể. Vì vậy, việc Thương hiệu Quốc gia Việt Nam có thứ hạng cao hơn nhiều so tổng giá trị của nhóm thương hiệu doanh nghiệp lớn nhất cũng cho thấy một vấn đề cần được quan tâm: Chúng ta phải tiếp tục làm cho “giá trị quốc gia” được chuyển hóa sâu hơn thành “giá trị doanh nghiệp” và giá trị sản phẩm.
Thực tế cho thấy, sau hơn 20 năm triển khai, Chương trình Thương hiệu Quốc gia đã góp phần hình thành một lớp doanh nghiệp có thương hiệu mạnh, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Năm 2026, Chương trình có 227 doanh nghiệp được công nhận, so số lượng 30 doanh nghiệp khi Chương trình bắt đầu năm 2003. Đáng chú ý, giá trị Thương hiệu Quốc gia Việt Nam năm 2025 được Brand Finance định giá 519,6 tỷ USD, xếp thứ 32/193 nền kinh tế, đây là những kết quả tích cực, nhưng cũng đặt ra yêu cầu mới về “chiều sâu” của thương hiệu doanh nghiệp.
Theo chúng tôi, các điểm nghẽn chủ yếu nằm ở 5 nhóm:
Thứ nhất, một bộ phận doanh nghiệp vẫn chưa coi thương hiệu, hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo là khoản đầu tư thiết yếu mang tính dài hạn.
Thứ hai, năng lực thiết kế, phát triển sản phẩm, quản trị thương hiệu và marketing quốc tế còn chưa đồng đều.
Thứ ba, việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở nước ngoài chưa được quan tâm tương xứng.
Thứ tư, nhiều doanh nghiệp còn phụ thuộc vào mô hình gia công, nhà sản xuất thiết bị gốc (OEM), trong khi năng lực xây dựng kênh phân phối và thương hiệu riêng ở nước ngoài còn hạn chế.
Thứ năm, các yêu cầu mới về chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn quốc tế đang nâng nhanh “ngưỡng” để một thương hiệu có thể đi xa.
Vì vậy, mục tiêu của giai đoạn tới không chỉ là có thêm nhiều doanh nghiệp được biết đến, mà quan trọng hơn là hình thành được những thương hiệu có khả năng tạo giá trị cao, có sức cạnh tranh bền vững và có vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đây cũng chính là hướng mà Bộ Công thương đang tập trung thực hiện thông qua Chương trình Thương hiệu Quốc gia, các hoạt động xúc tiến thương mại và chương trình Go Global.
Phóng viên: Bộ Công thương đã xác định mục tiêu chiến lược đến năm 2030 sẽ có 1.000 sản phẩm đạt Thương hiệu Quốc gia và đến năm 2035 đưa từ 5 đến 10 thương hiệu Việt Nam vào Bảng xếp hạng Tốp 500 thương hiệu giá trị nhất thế giới, đưa Thương hiệu Quốc gia vào Tốp 25 toàn cầu. Xin đồng chí cho biết, sẽ có những cơ chế đòn bẩy đột phá nào nhằm khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư cho R&D, chuyển từ thế “làm thuê” sang “làm chủ” thương hiệu độc lập (OBM)?
Thứ trưởng Công thương Phan Thị Thắng: Để có thêm thương hiệu Việt Nam đủ sức cạnh tranh quốc tế, doanh nghiệp cần tích lũy được năng lực công nghệ, thiết kế và phát triển sản phẩm, cùng khả năng tổ chức sản xuất và tiếp cận khách hàng. Trong lĩnh vực công nghiệp, chính sách hỗ trợ cần hướng vào những năng lực này để doanh nghiệp từng bước tham gia các khâu tạo ra giá trị gia tăng cao hơn.
OEM là sản xuất theo thiết kế, yêu cầu của khách hàng; ODM là chủ động thiết kế và sản xuất sản phẩm cho khách hàng; OBM là phát triển sản phẩm gắn với thương hiệu do doanh nghiệp làm chủ. Lộ trình giữa các mô hình cần phù hợp với từng ngành và nguồn lực của doanh nghiệp. Một nhà cung ứng linh kiện có thể tạo dựng uy tín quốc tế bằng công nghệ chuyên sâu và chất lượng ổn định; một doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng có thể phát triển thương hiệu riêng khi đã có năng lực thiết kế và hệ thống phân phối phù hợp. Chính sách cần tạo điều kiện cho các lựa chọn đó, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp nâng dần năng lực làm chủ sản phẩm.
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện và tổ chức thực hiện hiệu quả chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ. Nghị định số 111/2015/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 205/2025/NĐ-CP, đã bổ sung các hoạt động hỗ trợ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm, đổi mới công nghệ và thử nghiệm, kiểm định chất lượng, đây là cơ sở để hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ giải quyết những khó khăn cụ thể trong quá trình phát triển sản phẩm.
Thứ hai, phát triển năng lực hỗ trợ kỹ thuật dùng chung, gắn doanh nghiệp với các trung tâm hỗ trợ phát triển công nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo. Doanh nghiệp cần được tiếp cận dịch vụ thiết kế, đo lường, thử nghiệm và hoàn thiện quy trình để giảm chi phí phát triển sản phẩm, kiểm chứng chất lượng trước khi sản xuất thương mại. Hoạt động nghiên cứu phải xuất phát từ yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm và nhu cầu thực tế của khách hàng.
Thứ ba, tăng liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh với doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước. Việc kết nối cần đi cùng đánh giá năng lực nhà cung ứng, tư vấn cải tiến và hỗ trợ đáp ứng yêu cầu của bên mua. Những quan hệ cung ứng ổn định sẽ giúp doanh nghiệp có điều kiện đầu tư công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển sản phẩm.
Thứ tư, thúc đẩy cải tiến năng suất, chất lượng và ứng dụng công nghệ trong sản xuất. Việc gắn hỗ trợ năng lực sản xuất với phát triển thị trường và thương hiệu là nền tảng để doanh nghiệp đầu tư lâu dài cho R&D và phát triển sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam.
Phóng viên: Trong kỳ xét chọn Thương hiệu Quốc gia lần thứ 10 này, Bộ Công thương áp dụng những bộ tiêu chí sàng lọc mới nào để bảo đảm tôn vinh đúng những doanh nghiệp thật sự mang sứ mệnh “đầu đàn”, có năng lực dẫn dắt chuỗi giá trị và đủ bản lĩnh tiên phong vươn tầm quốc tế, thưa đồng chí?
Thứ trưởng Công thương Phan Thị Thắng: Điểm mới quan trọng của kỳ xét chọn lần thứ 10 là hệ thống tiêu chí đã được cập nhật theo Thông tư số 18/2026/ TT-BCT, có hiệu lực từ ngày 3/4/2026. Thông tư quy định hệ thống tiêu chí đăng ký, xét chọn sản phẩm đạt Thương hiệu Quốc gia theo ba nhóm chính: Chất lượng; Đổi mới, sáng tạo; Năng lực tiên phong.
Điểm đáng chú ý là tiêu chí không chỉ nhìn vào kết quả kinh doanh hiện tại mà yêu cầu doanh nghiệp chứng minh năng lực quản trị và khả năng phát triển trong trung, dài hạn. Theo đó, nhóm Chất lượng tập trung vào hệ thống quản lý, chính sách và chiến lược chất lượng, đầu tư duy trì chất lượng và các kết quả, giải thưởng về chất lượng. Nhóm Đổi mới, sáng tạo xem xét chính sách đổi mới, hoạt động R&D, công nghệ, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số, quy trình và mô hình kinh doanh mới, cùng năng lực phát triển nguồn nhân lực. Nhóm Năng lực tiên phong đi sâu vào tầm nhìn, giá trị cốt lõi, chiến lược kinh doanh và định vị thương hiệu, bảo vệ thương hiệu, xây dựng thương hiệu trong và ngoài doanh nghiệp và các năng lực tạo khác biệt.
Bên cạnh tiêu chí chấm điểm, doanh nghiệp và sản phẩm còn phải đáp ứng các điều kiện đăng ký, trong đó có yêu cầu về nguồn gốc hàng hóa, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và việc chấp hành các quy định của pháp luật liên quan tài chính, thuế, môi trường và các nghĩa vụ khác. Việc thẩm định, đánh giá được thực hiện theo quy trình quy định, nhằm bảo đảm khách quan, minh bạch và có thể kiểm chứng.
Vì vậy, khi nói đến “doanh nghiệp đầu đàn”, chúng tôi không chỉ đề cập đến doanh nghiệp có quy mô lớn, mà quan trọng hơn là doanh nghiệp phải có sản phẩm chất lượng, có năng lực đổi mới, có chiến lược thương hiệu rõ ràng, biết bảo vệ tài sản trí tuệ, có khả năng thích ứng và tạo ảnh hưởng tích cực trong chuỗi giá trị. Chính những yếu tố đó mới tạo nên vai trò dẫn dắt và sức lan tỏa của một Thương hiệu Quốc gia.
Phóng viên: Trong cấu trúc thực thi chính sách của Bộ Công thương, Cục Xúc tiến thương mại đóng vai trò là hạt nhân trực tiếp triển khai Chương trình Thương hiệu Quốc gia và các hoạt động kết nối giao thương quốc tế. Xin đồng chí cho biết, Bộ Công thương sẽ chỉ đạo Cục Xúc tiến thương mại đổi mới phương thức hoạt động như thế nào để công tác xúc tiến thương mại thật sự trở thành “bệ phóng” nâng tầm vị thế Thương hiệu Quốc gia trên trường quốc tế?
Thứ trưởng Công thương Phan Thị Thắng: Trong giai đoạn mới, Bộ Công thương sẽ chỉ đạo Cục Xúc tiến thương mại chuyển mạnh từ tư duy “tổ chức hoạt động xúc tiến” sang tư duy “kiến tạo hệ sinh thái phát triển thị trường và thương hiệu”. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là giúp doanh nghiệp có thêm một cuộc gặp gỡ đối tác, mà phải giúp doanh nghiệp có thị trường, có khách hàng, có thương hiệu và có vị trí bền vững trong chuỗi giá trị quốc tế. Hoạt động xúc tiến thương mại, xây dựng, phát triển thương hiệu trong thời gian tới sẽ được tập trung triển khai qua một số định hướng sau:
Thứ nhất, gắn Chương trình Thương hiệu Quốc gia với hoạt động xúc tiến thị trường. Doanh nghiệp đạt Thương hiệu Quốc gia cần được ưu tiên, lồng ghép và giới thiệu trong các hoạt động xúc tiến thương mại trọng điểm, các hội chợ, triển lãm quốc tế, diễn đàn doanh nghiệp và các chương trình kết nối với hệ thống phân phối, nhà nhập khẩu lớn.
Thứ hai, tăng cường ứng dụng dữ liệu và công nghệ số. Bộ sẽ tăng cường số hóa thông tin thị trường, hồ sơ doanh nghiệp và sản phẩm; phát triển các hình thức xúc tiến trên nền tảng số; đẩy mạnh quảng bá Thương hiệu Quốc gia Việt Nam và doanh nghiệp Thương hiệu Quốc gia trên các kênh số và thương mại điện tử xuyên biên giới.
Thứ ba, phát huy vai trò của hệ thống Thương vụ Việt Nam và các đầu mối xúc tiến thương mại ở nước ngoài, đây là lực lượng quan trọng để cung cấp thông tin thị trường, cảnh báo rủi ro, hỗ trợ kết nối, xác minh đối tác và hỗ trợ doanh nghiệp xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thâm nhập thị trường.
Thứ tư, gắn xúc tiến với nâng cao năng lực cạnh tranh. Bên cạnh việc hỗ trợ doanh nghiệp “đi ra thị trường”, cần chú trọng giúp doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn, thương hiệu, sở hữu trí tuệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và khả năng đáp ứng yêu cầu của từng thị trường.
Bộ Công thương sẽ tăng cường phối hợp các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp, tổ chức quốc tế, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và cơ quan báo chí tạo sự liên kết chặt chẽ, sức mạnh tổng hợp. Khi xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, truyền thông và phát triển thị trường được kết nối thành một chuỗi, Thương hiệu Quốc gia mới thật sự trở thành “bệ phóng” cho doanh nghiệp Việt Nam vươn ra thế giới.
Phóng viên: Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10), đồng chí muốn gửi gắm thông điệp gì tới cộng đồng doanh nhân Việt Nam - những người đang nỗ lực đưa sản phẩm, thương hiệu Việt Nam chinh phục thế giới? Thời gian tới, Bộ Công thương có những cam kết hành động cụ thể nào để đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp Việt?
Thứ trưởng Công thương Phan Thị Thắng: Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10), tôi xin gửi tới cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam lời chúc mừng và lời tri ân sâu sắc. Những thành quả của nền kinh tế đất nước hôm nay có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ doanh nhân - những người luôn tiên phong trong sản xuất, kinh doanh, đổi mới sáng tạo, tạo việc làm và đưa sản phẩm, thương hiệu Việt Nam vươn ra thị trường thế giới.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động, cạnh tranh ngày càng gay gắt và các thị trường đặt ra những yêu cầu cao hơn về chất lượng, công nghệ, tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững, tôi mong cộng đồng doanh nhân tiếp tục phát huy bản lĩnh, tinh thần chủ động, sáng tạo và khát vọng vươn lên, chú trọng nâng cao năng lực cạnh tranh, làm chủ công nghệ, xây dựng thương hiệu và từng bước tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Mỗi doanh nghiệp xây dựng được một thương hiệu mạnh cũng là góp phần xây dựng và nâng tầm Thương hiệu Quốc gia Việt Nam; mỗi sản phẩm Việt có uy tín trên thị trường quốc tế là thêm một dấu ấn về chất lượng, năng lực và vị thế của Việt Nam.
Bộ Công thương luôn xác định đồng hành cùng doanh nghiệp không chỉ là trách nhiệm mà phải được thể hiện bằng những hành động cụ thể, thiết thực. Bộ sẽ tiếp tục chủ động hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng và phát triển thị trường, khai thác hiệu quả các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) đã ký kết; đồng thời tăng cường cung cấp thông tin, dự báo và cảnh báo sớm về những thay đổi chính sách, tiêu chuẩn và rào cản thương mại để doanh nghiệp chủ động thích ứng.
Việc Thương hiệu Quốc gia Việt Nam có thứ hạng cao hơn nhiều so tổng giá trị của nhóm thương hiệu doanh nghiệp lớn nhất cũng cho thấy một vấn đề cần được quan tâm: Chúng ta phải tiếp tục làm cho “giá trị quốc gia” được chuyển hóa sâu hơn thành “giá trị doanh nghiệp” và giá trị sản phẩm.
Bộ Công thương sẽ tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến thương mại theo hướng thực chất, tăng cường kết nối doanh nghiệp với các đối tác, nhà nhập khẩu và hệ thống phân phối quốc tế; hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thương hiệu, nâng cao giá trị sản phẩm và quảng bá hình ảnh hàng hóa Việt Nam; đồng thời, tăng cường phòng vệ thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với các vụ việc điều tra ở nước ngoài, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và hàng hóa Việt Nam. Cùng với đó, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số, tạo thuận lợi thương mại và phối hợp tháo gỡ những điểm nghẽn về logistics, hạ tầng và các điều kiện phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng, doanh nghiệp là chủ thể của quá trình phát triển; Nhà nước kiến tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp phát huy tối đa năng lực. Doanh nghiệp Việt Nam không đơn độc trên hành trình hội nhập. Với sự chủ động, bản lĩnh và khát vọng của cộng đồng doanh nhân, cùng sự đồng hành thực chất của Nhà nước, tôi tin tưởng ngày càng có nhiều doanh nghiệp Việt Nam xây dựng được những thương hiệu có sức cạnh tranh quốc tế, qua đó cùng góp phần làm nên một Thương hiệu Quốc gia Việt Nam uy tín, chất lượng và có vị thế ngày càng cao trên thị trường thế giới.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn đồng chí!
ĐỨC HẠNH - MAI HUYÊN