Đây được xem là chìa khóa then chốt để doanh nghiệp Việt Nam không chỉ đáp ứng tốt yêu cầu trước mắt của khách hàng mà còn mở ra cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu đang được tái cấu trúc theo hướng bền vững, linh hoạt, phát thải thấp và phát triển bền vững trong dài hạn, gắn với việc thực hiện các nghị quyết chiến lược của Đảng và Chính phủ.
Tổng công ty May 10 đang tích cực triển khai hệ thống báo cáo quản trị thông minh, tích hợp các chỉ tiêu trọng yếu như doanh thu, tiến độ sản xuất, năng suất lao động. Dữ liệu được cập nhật liên tục theo thời gian thực, giúp ban lãnh đạo nắm tổng thể tình hình hoạt động của các đơn vị, từ đó kịp thời đưa ra các quyết định điều hành phù hợp. Việc áp dụng hệ thống báo cáo thông minh góp phần giảm khâu tổng hợp dữ liệu thủ công tại các đơn vị, hạn chế sai sót trong quá trình thống kê và rút ngắn thời gian xử lý thông tin, qua đó nâng cao hiệu quả làm việc của người lao động.
Song song với quá trình số hóa dữ liệu quản trị, đơn vị cũng triển khai hệ thống quản lý sản xuất và chất lượng tích hợp (GMES) tại các đơn vị sản xuất. Hệ thống ứng dụng công nghệ mã QR để theo dõi và kiểm soát toàn bộ chu trình sản xuất, từ quản lý nguyên vật liệu đầu vào, quản lý kho đến giám sát chất lượng sản phẩm. GMES cũng liên thông với hệ thống báo cáo quản trị, cho phép cập nhật dữ liệu theo thời gian thực và nâng cao tính minh bạch trong quản lý sản xuất...
May 10 còn xây dựng hệ thống quản lý tài sản (AMS) nhằm kiểm soát tập trung dữ liệu tài sản theo nhiều chủng loại và cấp độ quản lý. Hệ thống giúp chuẩn hóa và làm sạch dữ liệu tài sản, giảm thiểu thông tin trùng lặp hoặc không cần thiết, hỗ trợ tối ưu hóa việc sử dụng tài sản hiện có. Cùng với đó, hàng loạt giải pháp hiện đại đã và đang được ứng dụng như dự án nâng cấp phần mềm tài chính kế toán bravo, xây dựng môi trường làm việc số,…
Tổng Giám đốc Tổng công ty May 10 Thân Đức Việt khẳng định: Chuyển đổi số tiếp tục là định hướng trọng tâm của doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực quản trị và tối ưu hóa hoạt động sản xuất, kinh doanh. Năm 2025, doanh nghiệp đầu tư hơn 5,41 tỷ đồng và năm 2026 dự kiến đầu tư khoảng 4,07 tỷ đồng nhằm cam kết xây dựng nền tảng quản trị số đồng bộ và dài hạn. Bên cạnh đó, thúc đẩy chương trình chuyển đổi xanh thông qua việc tư vấn và triển khai chứng nhận “Nhà máy xanh” (LEED) tại nhiều xí nghiệp thành viên như may Hưng Hà, veston Hưng Hà, may Thái Hà, may Hà Quảng và may Bỉm Sơn.
Tại Công ty TNHH một thành viên Dệt 8/3, trước đây, để hoàn thiện một bộ chứng từ xuất, nhập khẩu, đơn vị mất từ 4 đến 5 ngày, nhưng sau khi số hóa dữ liệu, mã hóa chứng từ và tích hợp thông tin vào mã QR đã giúp thời gian xử lý xuống còn 1 đến 2 ngày, giúp nâng cao năng suất lao động, giảm khối lượng công việc hành chính. Việc ứng dụng mã QR trong quản lý chất lượng sản phẩm cho phép khách hàng truy xuất đầy đủ thông tin về nguyên liệu đầu vào, các chứng chỉ xanh và chất lượng sản phẩm. Toàn bộ dữ liệu được lưu trữ dài hạn, hỗ trợ doanh nghiệp theo dõi sự ổn định chất lượng qua nhiều năm, đồng thời tiết kiệm đáng kể chi phí in ấn.
Trong lĩnh vực sản xuất, Dệt 8/3 đã đầu tư hệ thống giám sát tại các máy sợi con, máy ống và hệ thống điều hòa không khí. Các dữ liệu được kết nối với phần mềm quản trị sản xuất trung tâm, cho phép theo dõi dây chuyền 24/24 giờ. Nhờ vậy, các công việc trước đây cần 4-5 lao động để ghi chép, tổng hợp số liệu thì nay chỉ cần 1-2 người. Dữ liệu luôn được cập nhật theo thời gian thực, giúp doanh nghiệp nhanh chóng phát hiện và xử lý các bất thường phát sinh. “Hiệu quả kinh tế mang lại thể hiện rõ nét khi doanh nghiệp giảm bình quân 1% mức tiêu hao nguyên liệu mỗi tháng, tương đương tiết kiệm khoảng 360 triệu đồng chi phí sản xuất/tháng”, lãnh đạo Công ty TNHH một thành viên Dệt 8/3 khẳng định.
Ngành dệt may Việt Nam đang đối diện nhiều sức ép như cạnh tranh về chi phí, năng suất, thời gian giao hàng, đặc biệt về thể chế và tiêu chuẩn mới. Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mở ra thị trường nhưng đồng thời đòi hỏi doanh nghiệp tuân thủ chặt chẽ quy định về môi trường, phát thải, lao động, truy xuất nguồn gốc. Các nhãn hàng toàn cầu chuyển từ việc “tin vào báo cáo” sang “đòi hỏi dữ liệu”. Chuỗi cung ứng dệt may theo đó phải minh bạch hơn, có khả năng cung cấp thông tin xuyên suốt từ nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm cuối cùng. Chính vì vậy, doanh nghiệp không số hóa và dữ liệu hóa được hoạt động của mình sẽ khó giữ vị trí trong chuỗi cung ứng.
Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) Vũ Đức Giang nhận định, các doanh nghiệp dệt may đã tiếp cận rất nhanh với các giải pháp tự động hóa, robot hóa và AI hóa, đặc biệt trong bối cảnh thời gian giao hàng ngắn hơn, yêu cầu chất lượng khắt khe hơn và cạnh tranh giá ngày càng lớn. Do đó, thiết bị và công nghệ 4.0 đang trở thành yếu tố giúp doanh nghiệp thích ứng với cách mua hàng mới của các nhãn hàng toàn cầu.
Theo Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) Lê Tiến Trường, tập đoàn đã xây dựng mô hình chuyển đổi số mang tính tổng thể như chuẩn hóa phần mềm tài chính kế toán (bravo) cho các đơn vị chi phối và phần mềm quản trị ngành sợi cho 7 đơn vị sản xuất trong hệ thống, ứng dụng Power BI trong thống kê và điều hành sản xuất, kinh doanh,…
Thời gian tới, Vinatex sẽ xây dựng khung kiến trúc số với 4 tầng, gồm tầng 1 về hạ tầng số và an ninh mạng; tầng 2 về dữ liệu và nền tảng lõi; tầng 3 về ứng dụng và nghiệp vụ; tầng 4 về kênh tương tác đo lường hiệu quả và mô hình dịch vụ quản trị số theo ma trận dịch vụ 2 chiều (theo chuyên ngành sợi, dệt nhuộm, may; theo chức năng tài chính kế toán, nhân sự, sản xuất, thị trường khách hàng), xây dựng các chính sách nội bộ quản lý thiết kế, phát triển và sản phẩm số để triển khai đồng bộ từ công ty mẹ tới các đơn vị trọng yếu sử dụng dịch vụ quản trị số của tập đoàn.
HOÀNG ANH