Bỏ qua điều hướng

Ngành xuất khẩu hàng tỷ USD trước áp lực môi trường, biến đổi khí hậu

Ngành xuất khẩu hàng tỷ USD trước áp lực môi trường, biến đổi khí hậu
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Áp lực chi phí, thách thức từ môi trường, tác động của biến đổi khí hậu, thị trường quốc tế ngày càng khắt khe về giảm phát thải và phát triển bền vững đang ngày càng đè nặng lên ngành tôm Việt Nam. Những điều đó đòi hỏi ngành tôm phải tiếp tục đổi mới mô hình sản xuất theo hướng thân thiện môi trườ...

Nhận định trên được đưa ra tại Diễn đàn đối tác công tư (PPP) thúc đẩy kinh tế tuần hoàn ngành tôm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), ngày 21/9, tại Cần Thơ.

Nhiều yêu cầu mới về sản xuất xanh

Ông Vũ Đức Đam Quang - Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) cho biết, ngành tôm có vị trí quan trọng trong sản xuất, xuất khẩu và tạo sinh kế cho người dân, đặc biệt tại khu vực ĐBSCL. Năm 2025, xuất khẩu tôm của Việt Nam đạt khoảng 4,6 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay và chiếm khoảng 35-45% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản.

Tuy nhiên, quá trình phát triển ngành tôm đang đứng trước nhiều yêu cầu. Chi phí đầu vào, xử lý môi trường tăng tạo áp lực lên hiệu quả sản xuất. Biến đổi khí hậu, dịch bệnh và những thay đổi về điều kiện môi trường tiếp tục ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động nuôi tôm. Các thị trường xuất khẩu ngày càng quan tâm đến truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon, trách nhiệm môi trường và tính bền vững của toàn bộ chuỗi giá trị…

Những yêu cầu trên, theo ông Quang, đòi hỏi ngành tôm cần tiếp tục đổi mới mô hình sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm phát thải, đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.

tp_hn.jpg
Phát triển ngành tôm đang đứng trước nhiều yêu cầu mới.

Theo ông Ngô Thế Anh - Trưởng Phòng Nuôi trồng thủy sản, Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Bộ NN&MT, ngành tôm cần áp dụng kinh tế tuần hoàn bởi các lý do về áp lực sản xuất và tài nguyên. Cùng với thách thức môi trường khi lượng nước thải, bùn hữu cơ lớn; chịu tác động từ hạn mặn, biến đổi khí hậu. Thị trường quốc tế ngày càng khắt khe về truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải và phát triển bền vững.

Theo đại diện Cục Thủy sản và Kiểm ngư, ĐBSCL hiện đã áp dụng đa dạng các mô hình kinh tế tuần hoàn như mô hình tôm - lúa, tôm - rừng, giúp giảm chi phí, bảo vệ đa dạng sinh học; tận dụng đầu, vỏ tôm sản xuất chitin, chitosan, glucosamine, thức ăn chăn nuôi, phân bón. Tuy nhiên, thiếu khung chính sách riêng, tiêu chuẩn/hướng dẫn kỹ thuật về kinh tế tuần hoàn trong ngành tôm...

Quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, liên kết chuỗi còn yếu, thiếu mô hình kinh doanh khả thi. Giải quyết các khoảng trống này là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa kinh tế tuần hoàn trong ngành tôm, hướng tới sản xuất xanh - giá trị cao - phát thải thấp - phát triển bền vững.

tp_tom.jpg
Việt Nam thuộc nhóm 4 nước sản xuất tôm lớn nhất thế giới, thứ 3 về giá trị xuất khẩu.

Bà Phùng Thị Kim Thu, chuyên gia của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) chỉ ra 5 điểm nghẽn đang làm suy yếu lợi thế của tôm Việt Nam, gồm: Sản xuất nhỏ lẻ; nguồn cung thiếu ổn định; giá thành cao; rào cản mở rộng (thuế, truy xuất, kháng sinh, trách nhiệm xã hội, carbon); phụ phẩm chưa chuẩn hóa.

Về tiêu chuẩn quốc tế dành cho thủy sản nuôi trồng có trách nhiệm, giúp bảo vệ môi trường, hệ sinh thái và đảm bảo an sinh xã hội (ASC), theo bà Thu, Việt Nam đã có nền tảng chứng nhận đáng kể. Tuy nhiên, yêu cầu mới đi sâu hơn vào chuỗi thức ăn, trang trại, lao động và dữ liệu môi trường. Khảo sát ASC với gần 15.000 người cho thấy kháng sinh và hóa chất là mối quan tâm nổi bật.

tp_thu.jpg
Chuyên gia VASEP - Phùng Thị Kim Thu.

Phụ phẩm cũng là tài nguyên

Bà Phùng Thị Kim Thu cho rằng, chuỗi tôm tuần hoàn cần giải quyết đồng thời 4 bài toán cạnh tranh gồm: Giảm chi phí của sự biến động; ổn định nguồn nguyên liệu; tạo dữ liệu để tiếp cận thị trường; và mở doanh thu phụ phẩm. Chuỗi tuần hoàn phải bắt đầu ở ao nuôi, nơi quyết định phần lớn chi phí và rủi ro.

“Cần xác định đầu và vỏ tôm là nguồn nguyên liệu thứ hai của nhà máy, phải phân loại tại nguồn, giữ lạnh và tinh chế theo tầng giá trị. Có công ty thu gom 30.000 - 40.000 tấn phụ phẩm tôm mỗi năm, cho thấy quy mô thương mại khả thi”, bà Thu nói.

Theo bà Trần Đào Hồng Ngọc - Giám đốc Kinh doanh Công ty Vietnam Food, đầu vỏ tôm là sản phẩm đồng hành, không phải rác hay phụ phẩm. Từ đầu vào là thu gom phụ phẩm tôm, doanh nghiệp đã áp dụng giải pháp sản xuất xanh để cho đầu ra là nguyên liệu carbon thấp (thực phẩm, chăm sóc thú cưng, thức ăn chăn nuôi, cây trồng…).

Ngành phụ phẩm nông nghiệp hứa hẹn sẽ trở thành ngành công nghiệp tỷ đô nếu được phát triển đúng cách. Bà Ngọc dẫn chứng, phụ phẩm nông nghiệp khoảng 160 triệu tấn/năm, giá trị 2 tỷ USD, con số này sẽ đạt 10 tỷ USD (tăng 5 lần) nếu chuyển hóa thành sản phẩm giá trị gia tăng.

Với thủy sản, phụ phẩm có sản lượng khoảng 1 triệu tấn/năm, giá trị 150 triệu USD, nếu chuyển hóa thành sản phẩm giá trị gia tăng, con số này sẽ tăng 20 lần, tương đương 3 tỷ USD.

Ngành xuất khẩu tôm Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức về chi phí sản xuất, biến đổi khí hậu cùng các tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe từ thị trường quốc tế. Tại Diễn đàn đối tác công tư thúc đẩy kinh tế tuần hoàn ngành tôm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long diễn ra ngày 21/9 tại Cần Thơ, đại diện Vụ Hợp tác quốc tế thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết xuất khẩu tôm đạt khoảng 4,6 tỷ USD trong năm 2025, chiếm từ 35% đến 45% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước. Mặc dù thuộc nhóm 4 nước sản xuất tôm lớn nhất thế giới và xếp thứ 3 về giá trị xuất khẩu, mô hình tăng trưởng của ngành vẫn chịu áp lực lớn từ hạn mặn, dịch bệnh và chi phí xử lý môi trường. Để vượt qua các rào cản về phát thải carbon và truy xuất nguồn gốc, chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn là giải pháp tất yếu đối với toàn bộ chuỗi giá trị. Đại diện Cục Thủy sản và Kiểm ngư ghi nhận khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã áp dụng nhiều mô hình bền vững như tôm lúa, tôm rừng, đồng thời tận dụng phụ phẩm đầu và vỏ tôm để sản xuất chitin, chitosan, glucosamine, thức ăn chăn nuôi và phân bón. Dù vậy, hoạt động nuôi trồng thực tế vẫn gặp trở ngại do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, liên kết chuỗi chưa chặt chẽ và thiếu khung chính sách cùng hướng dẫn kỹ thuật riêng. Nhận diện các rào cản tăng trưởng, chuyên gia Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam chỉ ra 5 điểm nghẽn gồm sản xuất nhỏ lẻ, nguồn cung thiếu ổn định, giá thành cao, phụ phẩm chưa chuẩn hóa và các rào cản mở rộng thị trường. Bên cạnh đó, dù Việt Nam có nền tảng chứng nhận ASC về nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm, thị trường quốc tế hiện yêu cầu cao hơn về dữ liệu môi trường, an sinh lao động và chuỗi thức ăn. Do đó, việc tháo gỡ các nút thắt chính sách và chuẩn hóa quy trình sản xuất xanh là điều kiện tiên quyết để ngành tôm nâng cao giá trị và phát triển bền vững.