Bỏ qua điều hướng
•

Nghề cào chằng chằng - sinh kế bình dị của ngư dân Mũi Né

Nghề cào chằng chằng - sinh kế bình dị của ngư dân Mũi Né
Nguồn ảnh: VietnamPlus (TTXVN)

Theo ông Nguyễn Chín, chằng chằng xuất hiện quanh năm nhưng vào thời điểm này, nguồn lợi thường dồi dào hơn. Nhờ vậy, nhiều người tranh thủ ra biển cào bắt để cải thiện thu nhập. Ngư dân Hà Tĩnh trúng đậm luồng cá bạc má sau những chuyến vươn khơi Xây dựng hình ảnh ngư dân văn minh, trách nhiệm và t...

Những ngày này, ngư dân vùng biển Mũi Né, tỉnh Lâm Đồng vào mùa cào chằng chằng. Từ sáng sớm, trên những bãi biển trải dài từ Mũi Né đến Hòn Rơm, Long Sơn, từng nhóm người lặng lẽ lội nước, kéo cào những con nhuyễn thể nhỏ vùi dưới lớp cát.

Công việc đòi hỏi sự cần mẫn, phụ thuộc vào con nước và thời tiết nhưng mang lại nguồn thu nhập cho nhiều ngư dân ven biển.

Khoảng 4 giờ, khi bãi biển còn vắng người, ông Nguyễn Chín, ở tổ dân phố 1, phường Mũi Né chuẩn bị dụng cụ để bắt đầu một buổi cào chằng chằng.

Hơn 20 năm gắn bó với nghề này, ông Chín cho biết, giờ giấc thường không cố định mà phụ thuộc vào thủy triều. Khi nước rút sâu, bãi cát ven bờ lộ ra, tranh thủ lúc đó, ông xuống biển cào chằng chằng.

Dụng cụ hành nghề của mỗi ngư dân khá đơn giản, gồm một lồng cào bằng inox gắn với cán gỗ dài hơn 2m.

Phía miệng lồng có các răng nhọn để cắm xuống cát, phía sau nối với lưới dài khoảng 1-2m. Khi cào, ngư dân kéo dụng cụ chìm dưới nước, đồng thời buộc thêm dây vào hông để trợ lực.

Người cào thường đi giật lùi trong làn nước chỉ ngang đầu gối, vừa kéo cào vừa cảm nhận độ nặng nhẹ của dụng cụ để xác định lượng chằng chằng thu được. Khi lồng lưới đầy, họ giũ sạch cát, tập kết sản phẩm rồi tiếp tục công việc.

Những thao tác tưởng chừng đơn giản ấy đòi hỏi sức bền và sự kiên trì, bởi người lao động phải di chuyển liên tục trên nền cát ướt, nhiều giờ liền theo con nước.

Theo ông Nguyễn Chín, chằng chằng xuất hiện quanh năm nhưng vào thời điểm này, nguồn lợi thường dồi dào hơn. Nhờ vậy, nhiều người tranh thủ ra biển cào bắt để cải thiện thu nhập.

“Nghề này không đòi hỏi kỹ thuật hay đầu tư gì nhiều. Chỉ cần người làm có sức khỏe, chịu lạnh dưới nước biển nhiều giờ. Mỗi ngày chịu khó từ 4-10 giờ cũng cào được 1-2 tạ chằng chằng, mang về thu nhập vài trăm nghìn đồng,” ông Chín chia sẻ.

Mỗi ngày, anh Nguyễn Văn Hoài, ở tổ dân phố 4, phường Mũi Né vẫn đều đặn ra bãi biển cào chằng chằng từ lúc trời còn tối. Khoảng 3 giờ mỗi ngày, anh cùng ba người trong nhóm mang dụng cụ xuống biển, tranh thủ thời điểm thủy triều rút để cào chằng chằng.

Để tăng hiệu quả, cả nhóm anh Hoài chia thành hai cặp, di chuyển song song, trong đó hai người cào ở khu vực gần bờ, hai người làm phía ngoài xa. Buổi sáng sau khi cào ở Mũi Né, nhóm di chuyển sang cào ở bãi biển Hòn Rơm, tùy theo con nước. Bình quân mỗi ngày, nhóm thu được khoảng 2 tấn chằng chằng.

Theo anh Hoài, nghề cào chằng chằng giúp người dân tận dụng thời gian và nguồn lợi ven bờ để duy trì sinh kế, với mức thu nhập trung bình khoảng 500.000-700.000 đồng/ngày.

Nghề cào chằng chằng đã có từ lâu đời ở địa phương. Chằng chằng còn được gọi là phù du biển, là loại nhuyễn thể hai mảnh vỏ có hình dáng gần giống nghêu, sò nhưng kích thước nhỏ.

Chúng sống vùi dưới lớp cát ở vùng biển gần bờ, nơi có độ mặn và chế độ thủy triều phù hợp. Chằng chằng được dùng làm thức ăn nuôi tôm hùm.

ttxvn-chang-chang.jpg
Sau mỗi lần cào, lồng lưới đầy chằng chằng được mang lên bờ cho vào từng bao. (Ảnh: Hồng Hiếu/TTXVN)

Theo ngư dân địa phương, sản lượng chằng chằng phụ thuộc nhiều vào thời tiết và thủy triều. Có năm nguồn lợi dồi dào nhưng cũng có năm sản lượng giảm mạnh, thậm chí gần như không xuất hiện.

Năm nay, chằng chằng xuất hiện khá nhiều nên ngoài những người làm nghề thường xuyên, một bộ phận ngư dân tranh thủ tham gia để tăng thêm thu nhập.

Sau mỗi buổi cào, chằng chằng được tập trung thành từng đống. Ngư dân dùng rổ thưa sàng bỏ cát, rác và tạp chất trước khi đóng bao đưa đến các điểm thu mua. Giá thu mua dao động từ 2.000-3.000 đồng/kg, tùy thời điểm.

Mức giá không cao nhưng khi nguồn chằng chằng dồi dào, người lao động có thể thu được một khoản đủ trang trải cuộc sống.

Anh Phạm Văn Hiền, chủ một cơ sở thu mua chằng chằng ở Mũi Né, cho biết mỗi ngày cơ sở tiếp nhận, thu mua chằng chằng của khoảng 40 ngư dân. Nguồn hàng sau khi sàng lựa kỹ lưỡng được vận chuyển đi tiêu thụ trong ngày.

“Hàng thu mua buổi sáng thì chiều tối phải vận chuyển ra vùng nuôi Cam Ranh (Khánh Hòa) ngay kịp làm thức ăn cho tôm hùm, không để qua ngày được,” anh Hiền cho biết.

Không chỉ mang lại nguồn thu cho người dân, nghề cào chằng chằng còn tạo nên một nét sinh hoạt đặc trưng trên bãi biển Mũi Né. Vào buổi sáng sớm, hình ảnh những nhóm ngư dân lội nước, kéo cào trên nền cát đã trở nên quen thuộc với người dân địa phương. Nhiều du khách tắm biển, tản bộ cũng tò mò, dừng chân quan sát, ghi lại nhịp lao động bình dị của làng chài.

Du khách Daniel, đến từ Nga chia sẻ: "Tôi rất tò mò vì sáng nào cũng thấy các anh đi thụt lùi cào, kéo một thứ gì đó. Hỏi ra mới biết các anh cào thức ăn cho tôm. Đây là hình ảnh đời sống bình dị, gần gũi mà chúng tôi có thể cảm nhận, khám phá khi đến Mũi Né.”

Từ những dụng cụ thô sơ và sự chịu thương chịu khó, ngư dân Mũi Né đang tận dụng nguồn lợi tự nhiên ven bờ để duy trì cuộc sống. Nghề cào chằng chằng không phải lúc nào cũng cho thu nhập ổn định, bởi sản lượng phụ thuộc vào thời tiết và con nước.

Tuy nhiên, với tính chất linh hoạt, phù hợp nhiều đối tượng lao động, nghề vẫn là một lựa chọn mưu sinh thiết thực, góp phần làm phong phú thêm sinh kế của cư dân vùng biển Mũi Né./.

​

​

​

(TTXVN/Vietnam+)
Nghề cào chằng chằng từ lâu đã trở thành sinh kế quen thuộc của ngư dân ven biển Mũi Né nhờ tận dụng hiệu quả nguồn lợi nhuyễn thể tự nhiên gần bờ. Loài sinh vật hai mảnh vỏ này sống vùi dưới cát, xuất hiện quanh năm nhưng bước vào thời kỳ dồi dào nhất khi điều kiện độ mặn cùng thủy triều thuận lợi. Sản phẩm sau khi khai thác chủ yếu được cung ứng làm nguồn thức ăn phục vụ hoạt động nuôi tôm hùm thương phẩm. Công việc bắt đầu từ rạng sáng khi nước rút sâu, đòi hỏi người lao động phải am hiểu quy luật thủy triều và có thể lực dẻo dai. Ngư dân sử dụng lồng cào inox răng nhọn gắn cán gỗ dài hơn 2m nối với túi lưới, đồng thời buộc dây trợ lực quanh hông rồi đi giật lùi liên tục dưới làn nước ngang gối. Quy trình khai thác hoàn toàn thủ công, không yêu cầu kỹ thuật phức tạp nhưng thử thách tính kiên trì cùng khả năng chịu lạnh suốt nhiều giờ liền. Mô hình khai thác theo nhóm cũng mang lại hiệu suất kinh tế rõ rệt, tiêu biểu như nhóm bốn người của anh Nguyễn Văn Hoài thu hoạch bình quân khoảng 2 tấn mỗi ngày khi luân chuyển giữa bãi biển Mũi Né và Hòn Rơm. Với những ngư dân làm việc độc lập như ông Nguyễn Chín, mỗi buổi kéo dài từ 4 đến 10 giờ có thể đem lại 1 đến 2 tạ thành phẩm. Nguồn thu dao động từ vài trăm nghìn đến 700.000 đồng mỗi ngày giúp bà con ổn định đời sống kinh tế gia đình.
amung