Bỏ qua điều hướng

Nghệ nhân hơn 60 năm giữ nghề nón ngựa Phú Gia

Nghệ nhân hơn 60 năm giữ nghề nón ngựa Phú Gia
Nguồn ảnh: VnExpress

Hơn sáu thập kỷ, nghệ nhân Đỗ Văn Lan, 77 tuổi, vẫn chằm nón, truyền nghề và tìm đầu ra cho nón ngựa Phú Gia - sản phẩm truyền thống hơn 300 năm.

Sáng giữa tháng 9, tại căn nhà ở làng Phú Gia, xã Xuân An, ông Đỗ Văn Lan (Sáu Lan) khai giảng lớp nâng cao nghề làm nón ngựa cho 20 phụ nữ trong vùng. Lớp học kéo dài ba giờ và không thu phí.

Ông hướng dẫn học viên tạo hoa văn, lựa chọn nguyên liệu và chằm nón - công đoạn dùng kim, chỉ kết các lớp lá vào khung. Sau buổi dạy, ông cùng 12 lao động tiếp tục chọn nan, vuốt lá, chằm từng mũi chỉ để hoàn thiện các đơn hàng của khách trong và ngoài nước.

Theo các nghệ nhân địa phương, nghề làm nón ngựa Phú Gia có từ thế kỷ 18, đến nay hơn 300 năm. Sản phẩm gắn với hình ảnh người cưỡi ngựa và đội quân Tây Sơn trên vùng đất Bình Định xưa.

Nón có hai quai cố định hai bên, dải nón luồn qua quai rồi buộc dưới cằm, giúp người đội giữ chắc khi cưỡi ngựa. Trước đây, sản phẩm còn gắn với tầng lớp quyền quý. Trong đám cưới, cô dâu đội nón ngồi kiệu, chú rể đội nón cưỡi ngựa. Chóp nón có thể gắn đồng, bạc hoặc đồi mồi, chạm hoa văn theo phẩm trật.

Lớp học làm nón ngựa tại nhà ông Đỗ Văn Lan. Ảnh: Trần Hóa

Lớp học làm nón ngựa tại nhà ông Đỗ Văn Lan. Ảnh: Trần Hóa

Gia đình ông Lan có 5 đời theo nghề. Năm 13 tuổi, ông học cha từ những công đoạn đơn giản. Ba năm sau, ông có thể tự hoàn thiện một chiếc nón, trở thành một trong những người trẻ nhất làng theo nghề lúc bấy giờ.

Theo ông, nghề làm nón ngựa được chia thành ba trình độ: vào nghề, khéo và tinh. Người mới cần 3-5 năm để thành thạo các công đoạn cơ bản, song phải trải qua hàng chục năm mới đạt độ tinh xảo. "Làm lâu mới biết nan nào vừa độ, lá nào đạt và đặt mũi kim thế nào cho đẹp", ông nói.

Để hoàn thiện một chiếc nón, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn. Thân giang được chẻ, phơi, ngâm rồi tước thành sợi để đan thành tấm. Tấm giang được đặt lên khuôn, dựng nan quanh sườn và thắt kín từ vành lên chóp.

Lá kè được rọc, phơi nắng, phơi sương, sấy và vuốt thẳng trước khi cắt thành từng mảnh. Rễ dứa rừng được chải lấy tơ làm chỉ.

Khó nhất là công đoạn chằm lá. Mũi kim phải nhỏ, đều, đủ chắc nhưng không để lộ đường chỉ. Sau đó, nghệ nhân thêu hoa văn bằng chỉ ngũ sắc, phổ biến là long, lân, quy, phụng hoặc mai, lan, trúc, cúc. Mỗi chiếc mất 4-5 ngày, có khi cả tuần mới hoàn thành.

Ông Đỗ Văn Lan bên chiếc nón ngựa đã hoàn thiện. Ảnh: Trần Hóa

Ông Đỗ Văn Lan bên chiếc nón ngựa đã hoàn thiện. Ảnh: Trần Hóa

Nghề đòi hỏi nhiều công sức nhưng thu nhập thấp khiến lớp trẻ ít mặn mà. Tại cơ sở của ông Lan, 12 lao động mỗi ngày chỉ hoàn thành khoảng hai chiếc. Sau khi trừ chi phí, mỗi người nhận 70.000-80.000 đồng.

Nón thông thường có giá 70.000-150.000 đồng, dòng truyền thống cao cấp từ 1,5 đến 6 triệu đồng. Những chiếc gắn chụp bạc hoặc đồi mồi, chạm hoa văn cầu kỳ có thể đạt 8-10 triệu đồng, tùy chất liệu và độ tinh xảo.

Bốn con gái ông Lan đều theo nghề cha. Mỗi tháng, ông mở hai lớp từ cơ bản đến nâng cao, không thu học phí.

"Chỉ cần người trẻ có tâm huyết, tôi sẵn sàng truyền lại tất cả", ông nói, cho rằng giữ nghề không chỉ dựa vào đam mê mà còn cần đầu ra để thợ có thể sống bằng công việc.

Từ năm 2013, ông kết nối với các doanh nghiệp lữ hành, đưa khách, học sinh và sinh viên đến làng Phú Gia tham quan, trải nghiệm làm nón. Sản phẩm cũng được nhiều du khách đến từ Anh, Mỹ, Canada, Ấn Độ, Hàn Quốc, Australia và Hà Lan tìm mua.

Ông còn làm những chiếc nón đường kính tới 3 m để trang trí nhà hàng, khách sạn và điểm du lịch. Các đơn hàng này tạo thêm việc làm cho người dân, với tiền công 300.000-500.000 đồng mỗi ngày. "Tôi muốn khai thác và quảng bá những tinh hoa của nón ngựa Phú Gia", ông nói.

Theo UBND xã Xuân An, khoảng 300 hộ tham gia sản xuất nón ngựa, trong đó 260 hộ ở thôn Phú Gia. Một số gia đình tại các thôn lân cận đảm nhận từng công đoạn, sau đó chuyển sản phẩm thô cho thợ chuyên làm hoa văn hoàn thiện.

Năm 2020, sản phẩm của ông Lan được công nhận OCOP 4 sao. Bốn năm sau, nghề chằm nón ngựa Phú Gia được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Tháng 8, UBND tỉnh Gia Lai phê duyệt đề án bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với du lịch cộng đồng. Giai đoạn 2026-2030, đề án dự kiến cần hơn 37 tỷ đồng để truyền nghề, số hóa dữ liệu, phát triển sản phẩm và xây dựng hoạt động trải nghiệm cho du khách.

Ở tuổi 77, ông Lan vẫn ngồi bên khuôn nón mỗi ngày. Ngoài sân, những bó giang được phơi dưới nắng; trong nhà, các sản phẩm dần hiện hình qua từng mũi chỉ.

Với ông, bảo tồn nón ngựa không chỉ là giữ lại một sản phẩm truyền thống, mà còn duy trì những đôi tay có thể làm ra nó. Vì thế, sau hơn sáu thập kỷ gắn bó, ông vẫn truyền lại những gì mình biết cho bất cứ ai muốn học.

Trần Hóa

Ở tuổi 77, nghệ nhân Đỗ Văn Lan, thường gọi Sáu Lan, vẫn đều đặn chằm nón, truyền nghề và tìm đầu ra cho nón ngựa Phú Gia tại xã Xuân An. Giữa tháng 9, ông khai giảng miễn phí lớp nâng cao kéo dài ba giờ cho 20 phụ nữ, hướng dẫn từ chọn nguyên liệu, tạo hoa văn đến chằm các lớp lá vào khung. Sau buổi dạy, ông cùng 12 lao động tiếp tục hoàn thiện đơn hàng phục vụ khách trong và ngoài nước. Nghề nón ngựa Phú Gia hình thành từ thế kỷ 18, gắn với người cưỡi ngựa và đội quân Tây Sơn trên vùng đất Bình Định xưa. Hai quai cố định cùng dải buộc dưới cằm giúp nón không rơi khi di chuyển, trong khi chóp bằng đồng, bạc hoặc đồi mồi và hoa văn chạm khắc từng phản ánh phẩm trật của người sử dụng. Trong nghi lễ cưới hỏi trước đây, cô dâu đội nón ngồi kiệu, còn chú rể đội nón cưỡi ngựa. Gia đình ông Lan có 5 đời theo nghề; ông bắt đầu học cha từ năm 13 tuổi và ba năm sau đã có thể tự hoàn thiện một chiếc nón. Theo ông, người thợ cần 3 đến 5 năm để thành thạo kỹ thuật cơ bản, nhưng phải tích lũy hàng chục năm mới đạt trình độ tinh xảo. Mỗi sản phẩm trải qua nhiều công đoạn xử lý giang, lá kè, rễ dứa rừng, dựng nan, chằm lá và thêu chỉ ngũ sắc, thường mất 4 đến 5 ngày, có khi cả tuần. Thách thức lớn nhất của làng nghề là thu nhập thấp, khi 12 lao động tại cơ sở ông Lan mỗi ngày chỉ hoàn thành khoảng hai chiếc và mỗi người nhận 70.000 đến 80.000 đồng sau chi phí. Nón thông thường có giá 70.000 đến 150.000 đồng, dòng truyền thống cao cấp từ 1,5 đến 6 triệu đồng, còn sản phẩm cầu kỳ có thể đạt 8 đến 10 triệu đồng. Bốn con gái đều nối nghề, mỗi tháng ông mở hai lớp miễn phí, đồng thời từ năm 2013 kết nối doanh nghiệp lữ hành đưa khách, học sinh và sinh viên đến trải nghiệm, cho thấy bảo tồn di sản chỉ bền vững khi người thợ có thể sống được bằng nghề.