Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường vừa họp phiên mở rộng để tiến hành thẩm tra sơ bộ dự án Luật An toàn thực phẩm sửa đổi.
Là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban và từng theo sát trong suốt quá trình góp ý xây dựng dự án luật này, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn nhấn mạnh luật sửa đổi lần này phải "quản lý nguy cơ thay vì quản lý hồ sơ".
"Một đầu mối" phải chịu trách nhiệm đến cùng về an toàn thực phẩm
Theo ông, luật mới phải trả lời rõ ba câu hỏi. Một là nhóm sản phẩm nào Nhà nước phải tiền kiểm và vì sao? Hai là nhóm nào doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm và Nhà nước hậu kiểm? Ba là căn cứ nào để chuyển một sản phẩm, một doanh nghiệp hoặc một quốc gia xuất khẩu từ mức kiểm soát này sang mức kiểm soát khác?
Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Ngọc Sơn (Ảnh: Quốc hội).
“Ba câu hỏi này phải được xác định bằng nguyên tắc và tiêu chí ngay trong Luật”, ông Sơn nêu quan điểm và nói thêm cần phân biệt rõ nội dung nào là chính sách thì Quốc hội quyết định, còn nội dung về kỹ thuật thực hiện thì Chính phủ quy định.
Ví dụ, danh mục có thể giao Chính phủ cập nhật; nhưng tiêu chí để đưa một nhóm sản phẩm vào diện tiền kiểm hay hậu kiểm phải có trong Luật. Tần suất kiểm tra có thể giao cơ quan quản lý điều chỉnh; nhưng nguyên tắc phân loại nguy cơ, cơ chế tăng, giảm mức kiểm soát và trách nhiệm của cơ quan ra quyết định phải được luật hóa.
Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đặc biệt đề nghị xem lại tính logic của việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Ủng hộ nguyên tắc quản lý dựa trên nguy cơ, song theo vị đại biểu, quản lý theo nguy cơ không có nghĩa là kiểm tra ít hơn một cách cơ học. Quản lý theo nguy cơ nghĩa là kiểm tra đúng đối tượng, đúng chỉ tiêu, đúng tần suất và đúng thời điểm.
“Cơ sở có lịch sử tuân thủ tốt có thể giảm kiểm tra. Nhưng bếp ăn trường học, bếp ăn khu công nghiệp, thực phẩm dành cho trẻ nhỏ, thực phẩm bảo vệ sức khỏe hoặc doanh nghiệp từng vi phạm phải được kiểm soát ở mức khác”, đại biểu Sơn nêu quan điểm.
Một điểm khác ông đề nghị cân nhắc là quy định không quá một lần kiểm tra mỗi năm. Bởi đối với doanh nghiệp thông thường, quy định này có thể góp phần tránh kiểm tra chồng chéo. Nhưng đối với nhóm nguy cơ cao, nếu quy định cứng một năm chỉ được kiểm tra một lần, lại có thể trở thành rào cản đối với chính cơ quan quản lý.
Theo góp ý của đại biểu, Luật cần phân biệt rõ kiểm tra định kỳ với kiểm tra đột xuất trên cơ sở nguy cơ, cảnh báo hoặc dấu hiệu vi phạm.
Với đề xuất mô hình “một đầu mối” trong dự thảo luật sửa đổi, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn nhấn mạnh cần làm rõ đây là “một đầu mối” chịu trách nhiệm, không chỉ một đầu mối hành chính.
Mục tiêu cuối cùng, theo ông Sơn, không phải là chuyển nhiệm vụ từ ba cơ quan sang một cơ quan trên sơ đồ tổ chức, mà điều người dân cần biết là: khi xảy ra một vụ ngộ độc hay phát hiện một chuỗi thực phẩm không an toàn, cơ quan nào chịu trách nhiệm đến cùng?
Góp ý cụ thể hơn, ông Sơn cho rằng “một đầu mối” phải được thiết kế theo hướng một cơ quan điều phối và chịu trách nhiệm cuối cùng về an toàn thực phẩm.
“Nếu chỉ đổi tên cơ quan quản lý mà dữ liệu vẫn nằm ở nhiều nơi, mỗi cơ quan giữ một hệ thống, khi xảy ra sự cố vẫn phải hỏi từng đơn vị thì chưa giải quyết được căn bản vấn đề”, theo lời đại biểu Sơn.
Ba phép thử khi sửa Luật An toàn thực phẩm
Ngoài ra, ông nhắc đến nguyên tắc rất quan trọng là “giảm thủ tục - tăng trách nhiệm”.
“Doanh nghiệp được tự công bố nhiều hơn thì trách nhiệm với thông tin công bố phải lớn hơn. Giảm tiền kiểm thì chế tài đối với gian lận phải mạnh hơn. Giảm tần suất kiểm tra đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt thì doanh nghiệp cố tình vi phạm phải chịu mức kiểm soát cao hơn”, ông Sơn nhìn nhận đây mới là sự cân bằng của mô hình quản lý hiện đại.
Chủ nhiệm Ủy ban KH-CN&MT Nguyễn Thanh Hải và đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Nguyễn Ngọc Sơn, kiểm tra hồ sơ, sổ sách nhập khẩu thực phẩm của bếp ăn Trường Tiểu học Đồng Đăng ở Lạng Sơn, trong chuyến khảo sát về an toàn thực phẩm hồi tháng 4 (Ảnh: Hoài Thu).
Khi sửa đổi luật này, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị dành sự quan tâm đặc biệt cho bếp ăn tập thể bởi đây là nơi mà sai sót có thể gây hậu quả cho hàng trăm, thậm chí hàng nghìn người.
Trong trường học hoặc khu công nghiệp, việc ký hợp đồng với một doanh nghiệp cung cấp suất ăn không thể làm chấm dứt trách nhiệm của đơn vị tổ chức bữa ăn. Vì thế, ông Sơn nhấn mạnh cần làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị có bếp ăn tập thể; nghĩa vụ kiểm tra nguồn gốc nguyên liệu, điều kiện giao nhận, lưu mẫu và xử lý khi có dấu hiệu bất thường, kể cả trường hợp thuê doanh nghiệp bên ngoài cung cấp suất ăn.
Nhìn lại toàn bộ dự án luật sửa đổi lần này, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đặt ra ba phép thử.
Phép thử thứ nhất, một sản phẩm có nguy cơ cao có được phát hiện sớm hơn không? Nếu Luật mới làm giảm số giấy phép nhưng một sản phẩm giả vẫn có thể lưu thông nhiều năm mới bị phát hiện, ông nói “mục tiêu chưa đạt”.
Phép thử thứ hai, một doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc có giảm được chi phí tuân thủ thực chất không, bởi nếu bỏ một giấy phép nhưng lại phát sinh thêm công bố, đăng ký lại, kiểm nghiệm, dữ liệu và nhiều thủ tục ở nghị định thì chưa phải cải cách.
Phép thử thứ ba, khi xảy ra sự cố, có xác định được trong vài giờ sản phẩm từ đâu đến, đã bán ở đâu và ai chịu trách nhiệm hay không?
Theo ông, nếu vẫn cần nhiều ngày gửi văn bản giữa các cơ quan thì chúng ta chưa thực sự quản lý theo chuỗi và theo dữ liệu.
Mục tiêu cuối cùng của Luật An toàn thực phẩm, theo đại biểu Sơn, không phải là Nhà nước quản lý được bao nhiêu hồ sơ. Mục tiêu phải là người dân ăn thực phẩm an toàn hơn, doanh nghiệp tuân thủ tốt được thuận lợi hơn, còn người gian lận bị phát hiện nhanh hơn và phải trả giá cao hơn cho hành vi vi phạm.