Bất ngờ “tàu quả dưa” nơi tuyến lửa
Căn nhà của kỹ sư Đoàn Nhân Lộ (nguyên cán bộ Đại học Bách khoa Hà Nội) nằm nép mình trên phố Tạ Quang Bửu (Hà Nội). Ở tầng 4, giữa những chậu hoa và kỷ vật của một thời chiến tranh, người kỹ sư nay đã ngoài 90 tuổi chậm rãi lần giở ký ức. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhiều chuyện đã nhạt dần theo năm tháng, nhưng có những dấu mốc ông vẫn nhớ rất rõ.
Ông Đoàn Nhân Lộ là một trong những thanh niên từng tham gia công tác đón đoàn quân chiến thắng trở về tiếp quản Hà Nội ngày 10/10/1954. Sau này, ông trở thành một trong những người góp sức làm nên tàu rà phá thủy lôi T5, con tàu không người lái góp phần khai thông những tuyến đường sông, bị bom từ trường, thủy lôi phong tỏa. Năm 1945, khi mới 9 tuổi, cậu bé Lộ sống ở Hưng Yên và tận mắt chứng kiến những người dân chết đói, những hình ảnh ấy đã trở thành một ám ảnh sâu sắc, hun đúc trong cậu bé ấy ý chí và khát vọng được làm một điều gì đó cho đất nước. “Tôi ra đường, người chết nằm dọc đường. Thương tâm lắm. Nhưng mà mình bé quá, chẳng giúp gì được”, ông Đoàn Nhân Lộ nhớ lại.
Chín năm sau, chàng thanh niên Đoàn Nhân Lộ và các đồng đội có mặt tại Hà Nội để làm công tác chuẩn bị. Ông được phân công phụ trách công tác thanh thiếu niên tại khu vực Hàng Bông, Hàng Gai, Đường Thành… Những ngày ấy, Hà Nội đứng trước một thời khắc lịch sử. Với người thanh niên khi đó, công việc tiếp quản không chỉ là một nhiệm vụ, mà còn là lần đầu tiên ông được chứng kiến một thành phố bước sang trang mới. Sau đó ông Lộ được gọi về ôn tập để chuẩn bị đi học nước ngoài. Điểm đến là Bắc Kinh, Trung Quốc. Năm 1960, sau khi tốt nghiệp loại ưu, ông Lộ về nước và bắt đầu giảng dạy tại Đại học Bách khoa Hà Nội. Khi cuộc chiến chống đế quốc Mỹ ngày càng khốc liệt, ông được giao nhiệm vụ cùng các kỹ sư thuộc phân Viện Nguyên cứu-Thiết kế tàu thủy (khi đó thuộc Bộ Giao thông vận tải) nghiên cứu một loại thiết bị không người lái nhằm xác định vị trí và xử lý thủy lôi, nhằm mở luồng an toàn cho tàu thuyền quân sự và dân sự của nước ta.
Ngày 5/8/1964, Mỹ bắt đầu dùng không quân đánh phá miền bắc. Đến những năm 1967-1968, một thủ đoạn mới được chúng triển khai đó là đưa máy bay chuyên dụng thả thủy lôi từ tính và bom từ trường xuống các cảng biển, cửa sông, tuyến đường thủy ở nhiều tỉnh, thành phố. Những “quả bom nằm im dưới nước” trở thành mối đe dọa thường trực đối với các tuyến vận tải huyết mạch. Trước tình hình đó, Bộ Giao thông vận tải khi đó đã đặt vấn đề phối hợp với Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, khi ấy do GS Tạ Quang Bửu làm Bộ trưởng. Trường đại học Bách khoa Hà Nội được chọn làm đầu mối nghiên cứu, tìm ra một thiết bị nhằm xác định vị trí và xử lý thủy lôi, nhằm mở luồng an toàn cho tàu thuyền quân sự và dân sự của nước ta.
Tổ công tác mang mật danh GK2 (G là Giao thông, K là Bách khoa) được thành lập với nhiệm vụ nghiên cứu, chế tạo phương tiện rà phá bom mìn, thủy lôi trên sông, biển. Hai cán bộ chủ chốt của GK2 là ông Nguyễn Hữu Bảo, phân Viện Nguyên cứu-Thiết kế tàu thủy (thuộc Bộ Giao thông vận tải (cũ), và ông Đoàn Nhân Lộ, cán bộ Đại học Bách khoa Hà Nội).
Theo kỹ sư Nguyễn Hữu Bảo, để rà phá thủy lôi hiệu quả, đó phải là một thiết bị như tàu thuyền, nhỏ gọn, không cần người lái. Việc nghiên cứu tàu T5 bắt đầu từ năm 1968. T5 nhỏ đến mức, nếu chỉ nhìn hình dáng, khó hình dung đây là một phương tiện mang nhiệm vụ đặc biệt. Tàu dài khoảng 4m, thân tựa quả dưa, chung quanh quấn một cuộn dây điện lớn. Khi đóng mạch, cả con tàu biến thành một nam châm, tạo ra từ trường để kích nổ thủy lôi. “Chúng tôi quen gọi là tàu, nhưng thật ra nó chỉ be bé như chiếc xuồng máy bốn chỗ ngồi. Vì chuyên dùng để phá thủy lôi trên sông lạch nên phải thật gọn nhẹ, có thể chở bằng xe tải đến những khúc sông bị thủy lôi phong tỏa”, ông Bảo nhấn mạnh.
Theo các kỹ sư, đằng sau con tàu nhỏ bé ấy là công sức của cả một tập thể. Ông Lộ được phân công giải quyết các vấn đề về vô tuyến điện; ông Nguyễn Hữu Bảo thiết kế hệ thống truyền động điện; ông Đinh Ngọc Liễn phụ trách hệ thống truyền động cơ giới; ông Phạm Văn Đương tham gia thiết kế phương án chọn tần cải tiến. Những kỹ sư trẻ như ông Lương, Đăng, Thắng... tham gia chế tạo và điều khiển tàu.
Những người thiết kế T5 phải chắt chiu từng thứ có thể sử dụng, từ những nguồn vật tư ít ỏi đến các linh kiện tháo từ xác máy bay đế quốc bị bắn rơi. Bóng bán dẫn, rơ-le điều khiển và những thiết bị điện tử khác được sửa chữa, chuyển đổi công năng, lắp ghép thành máy phát, máy thu và hệ thống điều khiển. Trong điều kiện ấy, mỗi linh kiện tìm được đều quý như một mảnh ghép của con tàu.
Rạng sáng 24/8/1972, máy bay Mỹ thả thủy lôi phong tỏa đoạn Chi Nhị - Đào Viên. Đây là lần đầu tiên một khúc sông gần Hà Nội bị phong tỏa bằng thủy lôi. Một số tàu thuyền chẳng may gặp nạn. Lúc này, T5 được lệnh “xuất trận”. Từ xa, qua hệ thống điều khiển, ông Lộ cùng các kỹ sư cho con tàu tiến vào khu vực nghi có thủy lôi. T5 lượn theo hình chữ chi, rà quét từng đoạn sông. Một con tàu nhỏ không người lái di chuyển trên mặt nước. Rồi một tiếng nổ xé toạc không gian. Thủy lôi phát nổ, do đoạn sông này khá cạn, sức nổ tạo thành một cột lửa và nước đỏ rực, bốc cao giữa nền trời. Rồi những quả thủy lôi tiếp theo bị phát hiện, phá hủy.
“Con tàu phá hủy” để giữ sinh mạng con người
Với thành công này, Bộ Giao thông vận tải đã cho đóng thêm 17 tàu T5. Từ sông Đuống, những chiếc T5 tiếp tục được đưa đến nhiều tuyến đường thủy khác. Tháng 10/1972, khi Mỹ thả thủy lôi phong tỏa đoạn sông Hồng (khu vực Vạn Điểm, nay thuộc xã Phú Xuyên), T5 được điều tới rà phá, rồi tiếp tục được chở vào cảng Bến Thủy (Nghệ An) làm nhiệm vụ. Tại đây, 8 quả thủy lôi bị phá nổ. Luồng tàu được khơi thông. T5 tiếp tục xuất hiện ở cửa Ba Lạt, trên sông La, sông Gianh và nhiều tuyến đường thủy khác. Con tàu nhỏ, không người lái, mang theo những linh kiện được chắt chiu giữa chiến tranh, đã trở thành một phương tiện đặc biệt góp phần mở lại những tuyến đường bị bom, thủy lôi phong tỏa.
Theo các kỹ sư, trước khi có T5, Việt Nam đã có các thiết bị rà phá thủy lôi trên sông, nhưng chưa thật sự an toàn. T5 với ưu điểm không người lái, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho người thực hiện nhiệm vụ rà phá. Kỹ sư Nguyễn Hữu Bảo, tâm sự: “Chống phong tỏa là sự nghiệp của toàn dân ta. Trong đó, nhóm kỹ sư chúng tôi đã đóng góp một phần nhỏ vào việc làm sạch thủy lôi trước khi Hội nghị Paris diễn ra”.
TS Vũ Văn Lương, phân Viện Nguyên cứu-Thiết kế tàu thủy, cho hay: T5 được đưa đi thử nghiệm trên nhiều địa hình, từ Hồ Tây đến bến Chèm. Các kỹ sư phải tính toán khả năng nhận tín hiệu ở từng khoảng cách, từng điều kiện mặt nước. T5 của nhóm kỹ sư ngoài tiến, có thể xoay trái, phải, lùi, lại gọn nhẹ, phù hợp trong điều kiện sông rạch nhỏ mà các phương tiện khác không có.
Với nhiều thành tích vượt trội, năm 1998, công trình tàu rà phá thủy lôi T5 được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ. Những người nghiên cứu, chế tạo và vận hành con tàu được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý.
Riêng kỹ sư Đoàn Nhân Lộ, sau chiến tranh, ông tiếp tục về làm công tác giảng dạy, tìm tòi, sáng tạo những sản phẩm phục vụ cuộc sống. Một trong số đó là thiết bị theo dõi nhịp tim từ xa, được Bộ Giao thông vận tải đặt hàng nghiên cứu.
Sau khi nghỉ chế độ, ông thành lập Công ty Điện tử Quang Vinh, tiếp tục theo đuổi lĩnh vực điện tử, thiết kế các hệ thống phát thanh, vô tuyến điện và triển khai ở nhiều địa phương miền bắc.
ĐINH LUYỆN, DIÊN KHÁNH