Bỏ qua điều hướng
•

Những bia đá "biết nói" ở ngôi chùa hơn 400 năm không có sư trụ trì

Những bia đá "biết nói" ở ngôi chùa hơn 400 năm không có sư trụ trì
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Ba tấm bia Bảo vật quốc gia ở chùa Keo Hành Thiện (Ninh Bình) ca ngợi công lao Đức Thánh Dương Không Lộ, một vị Thiền sư nổi tiếng thời Lý, được nhân dân tôn sùng là "Nam Thiên Thánh Tổ".

Bảo vật trăm tuổi

Những bia đá biết nói ở ngôi chùa hơn 400 năm không có sư trụ trì - 1

Di tích quốc gia đặc biệt chùa Keo Hành Thiện (Ảnh: Thái Bá).

Di tích quốc gia đặc biệt chùa Keo Hành Thiện, tọa lạc tại xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình (huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định cũ) nổi tiếng ở miền Bắc.

Ngôi chùa cổ này có tuổi đời hơn 400 năm, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, chùa vẫn được nhân dân bảo vệ, gìn giữ còn nguyên vẹn cho đến ngày nay. Hàng trăm năm qua, ngôi chùa không có sư trụ trì mà do người dân trông giữ.

Chùa Keo Hành Thiện là một tổng thể các công trình kiến trúc có quy mô lớn mang đậm phong cách kiến trúc thời Hậu Lê, thế kỷ XVII - XVIII. Hiện chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật mang giá trị di sản văn hoá phi vật thể quý giá như: hệ thống tượng pháp, bia ký, sắc phong, nhang án, kiệu, chuông, khánh, hoành phi, câu đối… 

Những bia đá biết nói ở ngôi chùa hơn 400 năm không có sư trụ trì - 2

Một trong 3 văn bia - Bảo vật quốc gia tại chùa Keo Hành Thiện (Ảnh: Thái Bá).

Trong đó, nổi bật hơn cả là cụm bia đá (3 tấm bia đá) thời Lê Trung hưng (thế kỷ 17, 18) còn nguyên vẹn: Tu tạo Thần Quang tự bi ký - Hoằng Định 13 (1613); Thần Quang tự Đại pháp sư bi - Nam mô a di đà phật - Cảnh Trị 9 (1671) và Hưng chú Thánh tượng Đại pháp sư bi ký - Nam mô a di đà phật - Chính Hòa 25 (1704).

Cả 3 tấm bia đều đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia (đợt 14, năm 2025).

Theo các tài liệu nghiên cứu, cả ba tấm bia đá đều được tạo tác với hình dáng vững chãi, bố cục, hình khối cân xứng hài hòa, có kích thước lớn. Đề tài trang trí trên bia phong phú với các hình tượng: rồng, tiên nữ, hoa sen, mây lửa… thể hiện sự sáng tạo và kỹ thuật chạm khắc đá điêu luyện bậc nhất vào thế kỷ 17-18 mà ít có bia đá thời Lê trung hưng nào trên cả nước có được.

Trăm năm bia đá không mòn

Những bia đá biết nói ở ngôi chùa hơn 400 năm không có sư trụ trì - 3

Chữ Hán khắc rõ nét trên các văn bia còn lưu giữ nguyên vẹn (Ảnh: Thái Bá).

Ghi nhận của phóng viên Dân trí tại Di tích quốc gia đặc biệt chùa Keo Hành Thiện, 3 tấm bia cổ là Bảo vật quốc gia của nhà chùa đều đang được đặt tại Tam quan nội kiêm gác chuông của ngôi chùa. Trong đó, hai tấm bia lớn đặt phía ngoài vào, tấm bia nhỏ đặt phía sau Tam quan. Kể từ khi được công nhận là Bảo vật quốc gia, ban quản lý di tích đã gắn biển, rào chắn lại để bảo vệ.

Ông Nguyễn Vũ Hộ (58 tuổi), một thủ từ chùa Keo Hành Thiện cho biết, từ bao đời nay, người dân làng Hành Thiện đã thay phiên nhau từ đời này qua đời khác gìn giữ, bảo vệ mọi hiện vật trong ngôi chùa cổ linh thiêng của làng.

Hồ sơ Bảo vật quốc gia 3 tấm bia chùa Keo Hành Thiện nêu rõ, các văn bia này ca ngợi công lao của Đức Thánh Dương Không Lộ, một vị Thiền sư, Quốc sư, Đại pháp sư nổi tiếng thời Lý, được nhân dân tôn sùng là "Nam Thiên Thánh Tổ".

Những bia đá biết nói ở ngôi chùa hơn 400 năm không có sư trụ trì - 4

Các họa tiết hoa văn được trạm khắc tinh xảo trên các văn bia (Ảnh: Thái Bá).

Đức Thánh Dương Không Lộ xưa kia không chỉ truyền bá, phổ biến giáo lý Phật giáo, còn chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông, dạy dân nghề đánh cá, đúc đồng, cứu giúp nhân dân... Ông là người cho xây dựng chùa Thần Quang vào năm Tân Sửu (1061) trên đất Giao Thủy, phủ Hải Thanh (người dân gọi là chùa Keo vì gọi theo địa danh là chùa Giao Thủy, trong tiếng Nôm từ "Giao" có âm Nôm là "Keo").

Cụm bia đá còn là nhân chứng lịch sử cho sự kiện trận lụt lớn, làm thay đổi không gian cư trú, kiến trúc của cộng đồng, hình thành chùa Keo Hành Thiện ngày nay.

Theo đó, năm Tân Hợi (1611) xảy ra lũ lụt lớn, cuốn trôi chùa Thần Quang, dân ấp phải dời đi hai nơi. Một bộ phận chuyển về mạn đông Nam, hữu mạn sông Hồng lập nên làng Hành Cung, đời Minh Mệnh (1820-1840) đổi là Hành Thiện (thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định cũ).

Một bộ phận chuyển về mạn tả ngạn sông Hồng về phía Đông - Bắc lập làng Dũng Nhuệ, thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình cũ. Theo ông Hộ, sử cũ còn ghi lại, sau khi định cư, dân làng hai nơi đều kiến thiết xây dựng ngôi chùa theo kiểu "tiền Phật hậu Thánh", cúng thờ Thiền sư Dương Khổng Lộ và Đức Phật.

Cũng vì thế, mà ngày nay chùa Keo có ở hai nơi là chùa Keo làng Dũng Nhuệ (tỉnh Thái Bình cũ) và chùa Keo Hành Thiện (tỉnh Nam Định cũ).

Ngoài ra, các văn bia còn phản ánh tư tưởng Phật giáo luôn gắn bó, hòa quyện với đời sống nhân dân, hướng con người tới những điều tốt đẹp. Văn bia cũng cung cấp nhiều thông tin về di tích, danh lam thắng cảnh nổi tiếng của nước Đại Việt.

Bên cạnh đó là công lao của những người khởi xướng, đóng góp công sức, tiền của cho việc xây dựng, trùng tu chùa, thể hiện tinh thần "uống nước nhớ nguồn" của cộng đồng và đời sống xã hội hài hòa, thanh bình thời kỳ đó, khi nhân dân được ấm no, hạnh phúc.

Đại diện ban quản lý chùa Keo Hành Thiện cho biết, cụm bia đá gắn liền với quá trình hình thành của làng Hành Thiện - vùng đất khoa bảng nổi tiếng với truyền thống hiếu học. Văn bia giúp người dân, du khách hiểu rõ hơn về lịch sử, văn hóa, đạo lý của địa phương, làm nên bản sắc văn hóa riêng; đồng thời là niềm tự hào của mỗi người dân và củng cố sự gắn kết cộng đồng cùng phát triển, gìn giữ di sản.

Những bia đá biết nói ở ngôi chùa hơn 400 năm không có sư trụ trì - 5

Rùa đá đội bia (Ảnh: Thái Bá).

Theo ông Nguyễn Thành Mạnh, Phó Chủ tịch UBND xã Xuân Hồng, việc bảo tồn, phát huy sẽ được địa phương thực hiện trên nguyên tắc giữ gìn tối đa yếu tố gốc, bảo vệ nguyên trạng bảo vật gắn với không gian di tích, ứng dụng công nghệ số; đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc gìn giữ bảo vật quốc gia một cách bền vững.

Tại xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình, chùa Keo Hành Thiện vẫn đứng vững sau hơn 400 năm, gìn giữ dáng vẻ cổ kính giữa bao biến động lịch sử. Ngôi chùa thuộc huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định cũ, được biết đến rộng rãi ở miền Bắc và vẫn được người dân địa phương chăm nom. Điều đặc biệt là suốt hàng trăm năm, nơi đây không có sư trụ trì; việc trông coi, bảo vệ chùa do cộng đồng làng thay nhau đảm nhận. Chùa Keo Hành Thiện là quần thể kiến trúc quy mô lớn, mang đậm phong cách thời Hậu Lê, với những dấu ấn hình thành trong thế kỷ XVII và XVIII. Trong chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật quý, từ tượng pháp, bia ký, sắc phong đến nhang án, kiệu, chuông, khánh, hoành phi và câu đối. Nổi bật giữa kho di sản ấy là ba tấm bia đá cổ còn nguyên vẹn, vừa có giá trị nghệ thuật, vừa kể lại những lớp chuyện của ngôi chùa. Ba bia lần lượt mang tên Tu tạo Thần Quang tự bi ký, dựng năm Hoằng Định 13, tức năm 1613; Thần Quang tự Đại pháp sư bi, dựng năm Cảnh Trị 9, tức năm 1671. Tấm bia còn lại là Hưng chú Thánh tượng Đại pháp sư bi ký, ghi niên đại Chính Hòa 25, tức năm 1704, với dòng chữ Nam mô a di đà phật. Cả ba đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia trong đợt 14 năm 2025, ghi nhận giá trị nổi bật của cụm di vật. Theo các tài liệu nghiên cứu, những tấm bia có kích thước lớn, dáng vững chãi, hình khối cân đối và bố cục hài hòa, tạo ấn tượng trang nghiêm ngay từ cái nhìn đầu tiên. Trên mặt đá, hình rồng, tiên nữ, hoa sen và mây lửa được chạm khắc phong phú, cho thấy bàn tay tài hoa cùng óc sáng tạo của người xưa. Kỹ thuật chạm đá tinh xảo ấy được đánh giá thuộc hàng bậc nhất thế kỷ XVII và XVIII, hiếm thấy ở những bia đá thời Lê Trung hưng trên cả nước. Phóng viên Dân Trí ghi nhận ba bảo vật hiện đặt tại Tam quan nội kiêm gác chuông của chùa, trong đó hai bia lớn nằm phía ngoài, bia nhỏ ở phía sau. Sau khi được công nhận là Bảo vật quốc gia, ban quản lý di tích đã gắn biển và dựng rào chắn nhằm bảo vệ những hiện vật đặc biệt quý giá này. Ông Nguyễn Vũ Hộ, 58 tuổi, một thủ từ, cho biết người làng Hành Thiện đã nối tiếp nhau qua nhiều thế hệ để gìn giữ mọi hiện vật trong ngôi chùa cổ. Hồ sơ bảo vật cho biết nội dung các văn bia ca ngợi Đức Thánh Dương Không Lộ, vị thiền sư, quốc sư, đại pháp sư nổi tiếng thời Lý, được nhân dân tôn kính là Nam Thiên Thánh Tổ. Tương truyền, ngài truyền bá giáo lý Phật giáo, chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông, dạy dân đánh cá, đúc đồng và cứu giúp mọi người. Ngài cũng là người cho dựng chùa Thần Quang năm Tân Sửu 1061 trên đất Giao Thủy, phủ Hải Thanh, nơi người dân gọi chùa theo địa danh bằng tên chùa Keo. Những tấm bia còn ghi dấu một trận lụt lớn năm Tân Hợi 1611, biến đổi nơi cư trú và kiến trúc của cộng đồng, đồng thời mở đầu cho những cuộc chuyển dời của dân làng. Lũ cuốn trôi chùa Thần Quang, khiến dân ấp phải chia thành hai nhóm, một nhóm chuyển về phía đông nam hữu ngạn sông Hồng, lập làng Hành Cung. Đến đời Minh Mệnh, từ năm 1820 đến 1840, làng Hành Cung đổi tên thành Hành Thiện, thuộc địa bàn Xuân Hồng ngày nay. Nhóm còn lại chuyển về tả ngạn sông Hồng, phía đông bắc, lập làng Dũng Nhuệ, thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình cũ. Theo ông Hộ, sau khi ổn định nơi ở, cư dân hai vùng đều dựng chùa theo kiểu tiền Phật hậu Thánh, thờ Đức Phật cùng thiền sư Dương Khổng Lộ. Vì thế, ngày nay có chùa Keo Hành Thiện và chùa Keo làng Dũng Nhuệ, mỗi ngôi gắn với một cộng đồng hình thành sau trận lụt. Từ những đường nét chạm đá đến các mốc lịch sử được khắc ghi, ba bia cổ tiếp tục giúp người hôm nay hiểu thêm về di sản và ký ức của vùng đất.