Thị Nở, Chí Phèo từ đời thật lên trang văn
Chí Phèo, tác phẩm gắn liền với tên tuổi nhà văn Nam Cao, ban đầu xuất bản năm 1941 bởi Nhà xuất bản Đời mới với tên gọi Đôi lứa xứng đôi (do Lê Văn Trương đặt và viết Lời tựa), được Nam Cao xây dựng từ sự tổng hợp nhiều nhân vật có thực ngay ở làng Đại Hoàng quê ông, theo chia sẻ của bà Trần Thị Hồng, con gái nhà văn viết về cha mình trong hồi ký Chuyện chưa biết về nhà văn Nam Cao.

Tác phẩm Chí Phèo bản tiếng Pháp, xuất bản năm 1983
ẢNH: TRẦN ĐÌNH BA
Nhân vật trung tâm của truyện, xuất hiện ngay từ dòng đầu tiên được nhà văn lột tả rất thực về con người, tính cách và dự báo số phận: "Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi". Kẻ hay rạch mặt ăn vạ ấy được xây dựng từ nguyên mẫu 3 người trong làng của nhà văn, từ đó tổng hợp mà nên nhân vật có cuộc đời đầy sóng gió của truyện cùng tên. Người thứ nhất tên Chí không vợ con, nhà cửa, chuyên mổ lợn thuê, hay nhắm rượu với phèo lợn, được dân làng gọi là Chí Phèo. Người thứ hai tên Trinh, cũng hay rượu, hay chửi và hay ăn vạ, vốn từ nhỏ không cha không mẹ, được nhặt ở lò gạch về nuôi. Người thứ ba tên Đào, là lực điền đi ở cho nhà Chánh Bính, vốn hiền lành, nhưng sau đó đi tù, trở về làng thì uống rượu nhiều và trở nên ngỗ ngược.
Với Thị Nở, người đàn bà xấu "ma chê quỷ hờn", làm nên tình yêu với Chí Phèo nhờ bát cháo hành đong đầy tình cảm, Nam Cao cũng xây dựng từ chất liệu thực là 2 người phụ nữ ở làng đều mang họ Trần. Một người là bà Nở "bề ngoài xấu xí, tính dở hơi, vô tâm và dễ ngủ", Chuyện chưa biết về nhà văn Nam Cao ghi. Người còn lại là bà Thìn "cũng xấu: mặt ngắn, mũi to, da sần sùi và dở người", vẫn sách trên cho hay. Hai người đàn bà ấy đã tạo nên một Thị Nở được Nam Cao xây dựng là "cái mặt của thị thực là một sự mỉa mai của hóa công", mặt ngắn, răng vẩu, dở hơi và nghèo, ế chồng.

Tác phẩm Nam Cao truyện ngắn xuất bản năm 1985
ẢNH: TRẦN ĐÌNH BA
Đã nói tới Thị Nở, Chí Phèo thì không thể bỏ qua Bá Kiến. Ngoài đời thực, đó chính là hình mẫu của Chánh Bính, tức chánh tổng Bính. Còn Binh Chức có tên thật là Chức, từng đi lính, Đội Tảo là ông Tụ, từng đi lính, làm chức đội nên được gọi Đội Tụ, Lý Cường là ông cửu Hòe cũng có thật ngoài đời… Con gái nhà văn Nam Cao thông tin thêm sau khi sách được in với tựa Đôi lứa xứng đôi, thanh niên trong làng đọc, rồi khắp nơi bàn tán, "sách của cậu ấy viết ra nói toàn chuyện làng mình, xem khoái lắm". Riêng Chánh Bính, khi biết truyện viết có mình trong đó, đã dọa bỏ tù nhà văn vì dám "viết sách chửi cả làng".
Nam Cao nhập thân vào Sống mòn
Ngoài Chí Phèo, Nam Cao còn nhiều lắm những tác phẩm được chuyển hóa từ việc thực, người thực đưa vào trang văn. Trong Nam Cao truyện ngắn, đã xác nhận vị trí của nhà văn trên văn đàn VN khi khẳng định "Nam Cao là nhà văn hiện thực mà những trang viết phản ánh sâu sắc bộ mặt của xã hội cũ thời kỳ 1939-1945"… "Điểm xuất phát của Nam Cao là cuộc đời cụ thể. Từ một làng quê nơi chôn nhau cắt rốn, Nam Cao đã ghi chép, chắt chiu tư liệu, đào sâu vào từng mảng sống để khái quát lên bức tranh về nông thôn VN thời kỳ thế giới đại chiến".
Con gái nhà văn chia sẻ đã nhiều lần, bà thấy chính hình ảnh cha mẹ mình trong những tác phẩm của cha. "Trong tiểu thuyết Sống mòn, tất cả cốt truyện hầu như cha tôi nói về bản thân và những người thân yêu nhất như: bà ngoại, cha mẹ, vợ, các em và bạn bè, đồng nghiệp. Nhân vật chính: Thứ là cha tôi, Liên là mẹ tôi. Đích là ông Bao - người họ hàng thân thích. Oanh là bà Phượng, người họ hàng của bác Tô Hoài đồng thời là người yêu, sau này thành vợ ông Bao. San là thầy Phấn, bạn học thân thiết của cha tôi, cũng là thầy dạy của tôi. Mô là anh Đa, một người hàng xóm của ông bà tôi". Trong truyện Giăng sáng, nhân vật Điền chính là Nam Cao, còn vợ Điền là vợ Nam Cao…
Truyện Lão Hạc cũng gây ấn tượng mạnh với độc giả về sự cùng khổ của người nông dân trong thời Pháp thuộc. Hình ảnh lão Hạc và cậu Vàng gây ám ảnh độc giả biết bao nhiêu. Nam Cao đã quan sát, ghi nhận từ cuộc đời người hàng xóm tốt bụng là trùm Duyên để xây dựng nên cốt truyện ấy. Đó là một người chăm chỉ, khéo tay và tốt bụng ấy nhưng "đời cụ lận đận. Cụ có 2 người con trai thì một người mất sớm, người kia đi làm ăn xa. Cụ sống một mình, làm bạn với chú chó lông vàng, yêu quý gọi là "Cậu Vàng". "Cụ thánh thiện đến nỗi vì muốn giữ vườn cho con mà tìm đến cái chết, khi biết mình không còn đủ sức để tự nuôi thân. Cụ quý cái mảnh vườn như vậy mà dám giao nó nhờ cha tôi giữ hộ", bà Trần Thị Hồng chia sẻ trong hồi ký về cha. (còn tiếp)