Bị kiện đòi hơn 251 triệu đồng vì sang làm cho đối tác
Ông Nguyễn Đình D. là kỹ thuật viên thuộc Đội kỹ thuật dự án của Công ty CP Công nghệ T. (Công ty T.), làm việc tại dự án Nhà máy lọc hóa dầu N.
Ngày 1/10/2019, ông D. ký hợp đồng lao động với Công ty T. Cùng thời điểm, hai bên ký “Thỏa thuận cam kết bảo mật thông tin và không cạnh tranh”.
Theo thỏa thuận, người lao động có nghĩa vụ bảo mật thông tin và thực hiện đầy đủ các điều khoản đã cam kết với Công ty T.
Đáng chú ý, tại điểm f khoản 4.1 Điều 4 của thỏa thuận, hai bên thống nhất rằng trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày không còn là nhân viên của Công ty T., người lao động không được làm việc hoặc cộng tác với bất kỳ cá nhân, đơn vị, doanh nghiệp nào dưới bất kỳ hình thức nào tại Nhà máy lọc hóa dầu N.
Ông D. nghỉ việc tại Công ty T. từ ngày 1/3/2021. Theo thỏa thuận trên, trong khoảng thời gian từ 1/3/2021 đến 28/2/2022, ông không được làm việc hoặc cộng tác tại Nhà máy lọc hóa dầu N.
Tuy nhiên, ngày 15/6/2021, ông D. ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Lọc hóa dầu N. và làm việc tại dự án Nhà máy lọc hóa dầu N.
Cho rằng ông D. vi phạm các cam kết về bảo mật thông tin và không cạnh tranh, Công ty T. yêu cầu ông bồi thường 251,8 triệu đồng.
Công ty T. còn cung cấp tài liệu cho rằng công việc và vị trí ông D. đảm nhiệm tại Nhà máy lọc hóa dầu N. tương tự khi ông còn làm việc cho Công ty T. Các tài liệu nghiệm thu công việc hàng tháng giữa Công ty T. và Công ty TNHH Lọc hóa dầu N. cũng ghi tên ông D. với tư cách đại diện phía Công ty TNHH Lọc hóa dầu N.
Ông D. thừa nhận việc ký hợp đồng lao động và thỏa thuận với Công ty T. nhưng cho rằng sau một thời gian làm việc, ông thấy công việc không còn phù hợp nên xin nghỉ.
Sau khi nhận quyết định chấm dứt hợp đồng lao động, ông nộp hồ sơ xin việc vào Công ty TNHH Lọc hóa dầu N. và trúng tuyển.
Ông D. lập luận Công ty TNHH Lọc hóa dầu N. chính là đơn vị thuê Công ty T. bảo trì thiết bị, là đối tác chứ không phải đối thủ cạnh tranh của Công ty T. Theo ông, hai doanh nghiệp không cùng ngành nghề kinh doanh và ông cũng không nắm giữ bất kỳ tài liệu, thông tin quan trọng nào của Công ty T.
Tòa xác định thỏa thuận hạn chế quyền làm việc không có giá trị ràng buộc
Tại bản án sơ thẩm ngày 27/9/2022, TAND thị xã N.S. chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T., buộc ông D. bồi thường 251,8 triệu đồng.
Không đồng ý, ông D. kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu của Công ty T.
VKSND thị xã N.S. cũng kháng nghị, cho rằng việc cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện là không có căn cứ. Theo kháng nghị, không có tài liệu, chứng cứ cho thấy ông D. cung cấp, sử dụng hoặc làm lộ bí mật kinh doanh, gây thiệt hại cho Công ty T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông D. cho biết, thời điểm ký các thỏa thuận, ông cần việc làm và không hiểu hết các điều khoản do Công ty T. soạn sẵn. Ông đã có 7 năm làm nghề trước đó nên Công ty T. không phải đào tạo thêm.
Ông D. cũng trình bày trong quá trình làm việc, ông chỉ thực hiện các công việc do Công ty T. giao tại Nhà máy lọc hóa dầu N., ngoài ra không được giao nắm giữ thông tin hay bí mật của doanh nghiệp.
HĐXX phúc thẩm nhận định, giữa Công ty T. và ông D. có ký “Thỏa thuận cam kết bảo mật thông tin và không cạnh tranh” cùng hợp đồng lao động với các điều khoản như Công ty T. viện dẫn.
Tuy nhiên, theo tòa, các thỏa thuận này không phù hợp với quy định tại Điều 35 Hiến pháp về quyền lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc của công dân; đồng thời trái với các quy định của Bộ luật Lao động về quyền tự do lựa chọn việc làm, làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm.
Do đó, các thỏa thuận giữa Công ty T. và ông D. không có giá trị pháp lý để buộc ông D. không được làm việc hoặc cộng tác tại Nhà máy lọc hóa dầu N. trong 12 tháng kể từ khi nghỉ việc.
Mặt khác, Công ty T. cho rằng ông D. làm việc tại Công ty TNHH Lọc hóa dầu N. là vi phạm thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh nhưng không xuất trình được tài liệu chứng minh ông D. đã sử dụng hoặc làm lộ bí mật của doanh nghiệp.
HĐXX cũng xác định Công ty T. và Công ty TNHH Lọc hóa dầu N. không cùng ngành nghề kinh doanh, không phải đối thủ cạnh tranh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Từ đó, tòa phúc thẩm cho rằng, bản án sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu do Công ty T. xuất trình để chấp nhận yêu cầu khởi kiện, buộc ông D. bồi thường là không có cơ sở, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông D.
HĐXX phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông D. và kháng nghị của Viện kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T.
(Bài viết dựa trên Bản án số 03/2023/LĐ-PT ngày 10/1/2023 của TAND tỉnh Thanh Hóa).