Bỏ qua điều hướng
•

Lãi suất khi nào có thể hạ nhiệt?

Lãi suất khi nào có thể hạ nhiệt?
Nguồn ảnh: VnExpress

Lãi suất chủ yếu đi ngang và khó giảm rõ nét trước đầu năm 2027 bởi áp lực lạm phát, cộng thêm khả năng Fed tiếp tục nâng lãi suất, theo chuyên gia.

Trong báo cáo công bố mới đây, nhóm phân tích Công ty Chứng khoán VNDirect kỳ vọng mặt bằng lãi suất hạ nhiệt rõ nét từ đầu năm 2027. Áp lực từ môi trường quốc tế khi đó được dự báo suy giảm, giúp Ngân hàng Nhà nước thuận lợi hơn trong việc điều hành chính sách tiền tệ.

Dự báo này thận trọng hơn cách đây một tháng, thời điểm Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) chưa ra quyết định nâng lãi suất điều hành thêm 25 điểm cơ bản. Nhóm phân tích VNDirect từng cho rằng mặt bằng lãi suất sẽ giảm dần từ quý IV, khi hiệu quả của các giải pháp hỗ trợ thanh khoản thời gian qua thẩm thấu sâu hơn.

Bộ phận Phân tích kinh tế và thị trường tài chính của Ngân hàng Techcombank cũng nhận định dư địa giảm lãi suất hiện nay không còn nhiều. "Chúng tôi giữ nguyên dự báo lãi suất huy động chủ yếu đi ngang từ nay đến cuối năm", chuyên gia của Techcombank viết.

Các dự báo này cho thấy người gửi tiền có thể còn hưởng lãi suất hấp dẫn trong thời gian tới. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tháng 8, lãi suất tiền gửi cao nhất cho kỳ hạn 6-12 tháng đã chạm mốc 8%, kỳ hạn dài hơn 24 tháng lên 8,1%. Cả hai đều tăng 0,2 điểm phần trăm so với tháng trước.

Giao dịch thực tế đang vượt xa biểu niêm yết công khai. Nhiều ngân hàng áp dụng chương trình cộng thêm lãi suất, đưa mức huy động phổ biến quanh 8,5-9,3% một năm cho kỳ hạn 6 tháng. Bên cạnh kênh truyền thống, các nhà băng chấp nhận chi phí vốn cao hơn để huy động qua giấy tờ có giá, gồm chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu, với lãi suất dao động 8,7-10%.

Chi phí huy động tăng kéo lãi suất cho vay đi lên. Lãi suất cho vay bình quân tháng 8 là 10,7%, tăng gần 2 điểm phần trăm so với cuối năm ngoái. Mức cho vay ngắn hạn với các lĩnh vực ưu tiên như xuất khẩu, nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ, ứng dụng công nghệ cao... đã chạm trần 4% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Lý giải việc lãi suất khó giảm, bộ phận phân tích của Techcombank chỉ ra hai nguyên nhân. Thứ nhất, lạm phát đang chịu áp lực tăng trở lại. Bình quân 8 tháng đầu năm, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,45% so với cùng kỳ, lạm phát cơ bản ở mức 4,42%, xấp xỉ mục tiêu kiểm soát 4,5%. Thứ hai, nhu cầu vốn tiếp tục ở mức cao để phục vụ các dự án hạ tầng và đầu tư quy mô lớn. Điều này buộc ngân hàng phải duy trì khả năng huy động để đáp ứng tăng trưởng tín dụng.

Thanh khoản hệ thống, một yếu tố quan trọng quyết định mặt bằng lãi suất, phát tín hiệu cải thiện, nhưng các chuyên gia cho rằng chưa đủ bền vững.

Nhóm phân tích Công ty Chứng VNDirect nhận định các biện pháp hỗ trợ của nhà điều hành gồm thay đổi cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) và nới tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn dần phát huy hiệu quả. Song, các quy định mới có hiệu lực khoảng hai tháng nên tác động giải phóng thanh khoản chưa phản ánh đầy đủ vào mặt bằng lãi suất.

Tháng 8 mới là tháng đầu tiên ngân sách đảo chiều sang chi vượt thu, sau thời gian dài tích lũy nguồn tiền tại Kho bạc Nhà nước. Để trở thành lực đỡ quan trọng cho thanh khoản hệ thống, xu hướng này cần được duy trì, cộng thêm tốc độ giải ngân đầu tư công tăng vào cao điểm cuối năm, theo VNDirect.

Ngoài các yếu tố trong nước, biến số lớn nhất với lãi suất là chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Mức độ ảnh hưởng sẽ tùy thuộc thông điệp của cơ quan này.

Nếu Fed phát tín hiệu sẵn sàng tăng lãi suất nhiều lần, áp lực lên tỷ giá và lãi suất ngắn hạn có thể gia tăng. Ngược lại, nếu Fed giữ nguyên lãi suất hoặc tăng từng bước kèm thông điệp thận trọng, áp lực tỷ giá chỉ ở mức vừa phải. Khi đó, tác động lan tỏa tới lãi suất trong nước sẽ được hạn chế đáng kể.

Ông Suan Teck Kin, Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore, đánh giá đợt tăng lãi suất của Fed tuần trước đã tạo thêm áp lực lên Ngân hàng Nhà nước. Trong 6 tháng tới, ông cho rằng Fed còn hai đợt tăng, dự kiến vào tháng 12/2026 và quý đầu 2027. Do đó, thách thức đối với nhà điều hành trong việc ổn định thanh khoản hệ thống và mặt bằng lãi suất ngày càng lớn, nhất là khi chênh lệch lãi suất USD và tiền đồng đang nới rộng.

Rủi ro này cũng được TS. Cấn Văn Lực và nhóm chuyên gia Viện Nghiên cứu Kinh tế BIDV đề cập trong báo cáo công bố tuần trước. "Do lãi suất USD và một số ngoại tệ khác tăng, dư địa giảm lãi suất cho vay trong ngắn hạn trở nên khó khăn hơn, nhất là nếu Fed tiếp tục tăng lãi suất vào cuối năm 2026", nhóm chuyên gia BIDV viết.

Theo ông Suan, từ trước đến nay, Ngân hàng Nhà nước luôn thận trọng trong điều hành chính sách với mục tiêu cân bằng giữa duy trì lãi suất ổn định và đảm bảo tăng trưởng kinh tế. Dù sức ép ngày càng tăng, nhà điều hành nhiều khả năng tiếp tục ưu tiên sự ổn định. Lãi suất tái cấp vốn đã ở mức 4,5% một năm từ giữa 2023, còn trần lãi suất huy động kỳ hạn một tháng đến dưới 6 tháng là 4,75%.

"Áp lực rất lớn, nhưng Ngân hàng Nhà nước có thể duy trì lãi suất như hiện tại trong phần còn lại của 2026 và kéo dài sang 2027", ông Suan nói. Công cụ phù hợp để hỗ trợ tăng trưởng hiện nay được cho là chính sách tài khóa, bao gồm đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, cải cách thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, thay vì chủ yếu dựa vào chính sách tín dụng hoặc lãi suất.

Phương Đông

Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay tại Việt Nam được dự báo khó giảm rõ nét trước đầu năm 2027 do chịu áp lực từ lạm phát gia tăng cùng động thái nâng lãi suất điều hành của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Nhóm phân tích Công ty Chứng khoán VNDirect nhận định môi trường quốc tế hạ nhiệt vào giai đoạn đó sẽ giúp Ngân hàng Nhà nước thuận lợi hơn trong điều hành chính sách tiền tệ. Trong khi đó, Ngân hàng Techcombank dự báo lãi suất huy động chủ yếu đi ngang từ nay đến cuối năm khi dư địa giảm thêm không còn nhiều. Thực tế thị trường tháng 8 cho thấy lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6 đến 12 tháng công khai đã chạm mốc 8% một năm, còn các chương trình cộng thêm lãi suất thực tế đưa mức huy động lên phổ biến 8,5% đến 9,3% một năm. Chi phí vốn đầu vào duy trì ở mức cao kéo theo lãi suất cho vay bình quân tăng gần 2 điểm phần trăm so với cuối năm ngoái, đạt 10,7% một năm. Áp lực này xuất phát từ việc chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng tăng 4,45% so với cùng kỳ, tiến sát mục tiêu kiểm soát lạm phát 4,5%. Bên cạnh rủi ro lạm phát, nhu cầu vốn lớn phục vụ các dự án hạ tầng cùng hoạt động đầu tư quy mô lớn bắt buộc hệ thống ngân hàng phải duy trì năng lực huy động vốn cao. Mặc dù các biện pháp hỗ trợ thanh khoản của nhà điều hành như thay đổi cách tính tỷ lệ LDR đã bắt đầu phát huy hiệu quả, tác động tích cực vẫn chưa phản ánh đầy đủ vào mặt bằng lãi suất chung. Sự phối hợp từ chính sách tài khóa với xu hướng chi vượt thu của ngân sách nhà nước được kỳ vọng sẽ gia tăng lực đỡ thanh khoản bền vững hơn cho thị trường trong thời gian tới.