Bỏ qua điều hướng
•

Những lớp ký ức Hà Nội: Tên cha ông là ngọn đèn thành phố

Những lớp ký ức Hà Nội: Tên cha ông là ngọn đèn thành phố
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Với tư cách một thủ phủ thuộc địa, Hà Nội cũng theo bước các thành phố Pháp, bắt đầu có biển phố tên người, tên người Việt…

Tên đường phố ở VN nói chung và Hà Nội nói riêng thừa hưởng cách lấy tên danh nhân và các địa danh lịch sử của Pháp đặt ra. Khác với Trung Quốc hay Mỹ gần như không có truyền thống đặt tên người cho đường phố, yếu tố lịch sử được gieo cấy đậm đặc trên những biển đường các thành phố nước Pháp từ sau Cách mạng Pháp 1789 và các đợt quy hoạch trong thế kỷ 19. Với tư cách một thủ phủ thuộc địa, Hà Nội cũng theo bước, bắt đầu là những biển phố tên người Pháp bên cạnh những phố Hàng được dịch sang tiếng Pháp. Vậy những người Việt nào đã được đặt tên phố đầu tiên?

Tên cha ông là ngọn đèn thành phố - Ảnh 1.

Ký họa Hà Nội của Nguyễn Trương Quý

ẢNH: TGCC

Bốn thập niên và 24 cái tên

Thoạt đầu, các đường phố đặt tên người nằm ở khu phố Tây, đều là tên những chỉ huy thực dân hoặc các nhân vật chính trường Pháp có liên quan chế độ thuộc địa, mở đầu là con đường mang tên nhà thực dân Paul Bert với tấm biển khảm trai có hàng chữ Hán phiên âm là "Bôn Bi đường".

Những người Việt đầu tiên được đặt tên từ cuối thập niên 1910 là những quan lại nhà Nguyễn từng có mối liên hệ với người Pháp và các danh nhân Việt mang tính cổ điển, trên những đường phố rất bé có độ dài không quá 300 m (như Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Tiền Quân Thành…); đáng kể hơn cả về độ lớn là hai đại lộ Gia Long (đoạn đầu Bà Triệu) và Đồng Khánh (Hàng Bài) nằm trong khu phố Pháp. Chỉ có tên phố Án Sát Siêu có ý nghĩa liên quan đến thực địa khi đặt cho đoạn phố đi qua ngôi nhà cũ và nơi dạy học của danh nhân Nguyễn Văn Siêu.

Sang thập niên 1930 - 1940, cùng với sự mở rộng các khu phố và quỹ đường tăng lên, không gian lịch sử thể hiện trên kho tên phố bản địa mới mở rộng hơn về niên đại và loại hình nhân vật, lên tới thời Hai Bà Trưng, Đinh, Lý, Trần, Hậu Lê và có thêm các vị trạng nguyên, học giả, thi nhân (Mạc Đĩnh Chi, Trạng Trình, Lê Quý Đôn...).

Tên cha ông là ngọn đèn thành phố - Ảnh 2.

Vị trí các phố tên người ở Hà Nội năm 1942

ẢNH: TGCC

Như vậy có chừng 24 người Việt đã được đặt tên đường phố nội thành Hà Nội cho đến trước năm 1945, và 14 trong số đó là người của "hoàng triều", tức sống ở thời Nguyễn và thuộc Pháp. Nhìn tổng thể, 24 cái tên Việt trước năm 1945 dường như là giải pháp tình thế và lấp chỗ trống hơn là có chủ định, gần như không nói lên điều gì ngoài sự tản mát. 

Phải đến sau khi Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945), việc làm có ý nghĩa lớn của Đốc lý Hà Nội Trần Văn Lai dưới quyền chính phủ Trần Trọng Kim là đã cho đổi tên các đường phố, vườn hoa, quảng trường sang tên các danh nhân và chiến tích lịch sử VN theo một hệ thống quy tắc còn ảnh hưởng đến ngày nay. Đó là kết quả của một quá trình tạo dựng ý niệm quốc gia dân tộc (nation-state): các vị vua khởi dựng nền độc lập tự chủ được đặt cho các đường phố lớn ở trung tâm, các danh nhân văn chương hay học vấn đặt theo cụm hoặc địa bàn liên quan.

Những cái tên: Đi, ở và trở lại ?

"Tên đường phố là một loại di sản ngôn ngữ của thành phố, và rồi chúng trở thành một phần tâm hồn của cư dân" (Derek H. Alderman, New York Times 23.6.2020). Do đó việc đổi tên đường phố trở thành một loại trận chiến văn hóa lịch sử của thời đương đại, dẫn đến sự thay đổi nhận thức của đại chúng về sự kiện hay nhân vật lịch sử.

Tên cha ông là ngọn đèn thành phố - Ảnh 3.

Tin về tên mới của phố ở Hà Nội

ẢNH: TGCC

Cuộc nhận thức về quá khứ qua tên phố hiển thị rõ qua sự biến đổi của 24 tên phố Hà Nội nói trên. Chỉ có 3 trong số 24 phố giữ nguyên tên ở vị trí cũ là Án Sát Siêu (điều chỉnh thành Nguyễn Siêu), Mạc Đĩnh Chi, Đào Duy Từ; 10 cái tên chủ yếu là các vị vua, anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa được đổi ra những đường phố lớn hơn, nằm trong hệ thống gắn kết chặt chẽ quanh trung tâm khu phố nam hồ Hoàn Kiếm hoặc gần Văn Miếu.

11 cái tên đã bị loại bỏ cũng là một nhóm đối tượng thú vị để suy tư về những cuộc đổi thay tư tưởng. Ngoài nhóm các nhân vật liên quan quân đội và chính quyền thực dân (Cao Đắc Minh, Đỗ Hữu Vị, Hà Văn Ký, Hoàng Cao Khải, Nguyễn Duy Hàn), nhóm các đại thần nhà Nguyễn gồm Nguyễn Văn Thành, Lê Chất, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trọng Hiệp (Hợp) phản ánh bản chất phức tạp của thời thuộc địa. 

Hai vị tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Văn Thành và Lê Chất từng có đóng góp to lớn trong việc tái thiết thành Thăng Long, xây Khuê Văn Các (1805) hay thực hiện bộ Bắc Thành dư địa chí; còn Phạm Phú Thứ và Nguyễn Trọng Hợp dù có tư tưởng canh tân, cởi mở với cái mới nhưng lại bị đặt vào thời cuộc gian nan khi phải đi sứ điều đình hoặc ký các hòa ước bất bình đẳng với Pháp (1862, 1883). Đến nay, họ vẫn chưa có lại tên đường phố ở Hà Nội.

Ở một thành phố vốn dĩ đậm đặc những lớp lang quá khứ như Hà Nội, đặt tên tiền nhân cho đường phố là một sự ký thác những khung giá trị cho đời sống thời đại đó. Vào những năm 1960, âm điệu sử thi đã khẳng định vai trò kết nối quá khứ của thiết chế đô thị này, tô đậm cảm thức kế thừa tính chính danh của xã hội đương thời - xây dựng thời đại cách mạng trong hào quang của lịch sử đã qua. Nhà thơ Lê Anh Xuân viết: "Tên cha ông là ngọn đèn thành phố/Có Hàng Đào, Hàng Bông, ba mươi sáu cánh hoa". (còn tiếp)

(Trích từ cuốn Dấu vân tay của phố, tác giả Nguyễn Trương Quý, NXB Hà Nội và Công ty Nhã Nam)

Không gian đô thị Hà Nội thời kỳ thuộc địa từng chịu sự chi phối mạnh mẽ từ quy hoạch của Pháp, trong đó việc đặt tên đường gắn liền với toan tính chính trị thực dân. Khởi đầu từ những biển tên chỉ huy quân sự Pháp ở khu phố Tây như đại lộ Paul Bert, tên tuổi người Việt chỉ bắt đầu xuất hiện dè dặt từ cuối thập niên 1910. Nhóm danh nhân bản địa ban đầu chủ yếu là các quan chức thời Nguyễn có liên hệ với chính quyền bảo hộ hoặc những tên tuổi kinh điển, thường chỉ gắn với các tuyến phố ngắn dưới 300 mét. Trong suốt bốn thập niên cho đến trước năm 1945, quỹ tên phố nội thành ghi nhận vỏn vẹn chừng 24 nhân vật người Việt. Đáng chú ý, có tới 14 người thuộc giai đoạn nhà Nguyễn và thời Pháp thuộc, phản ánh tính chất tình thế, tản mát và thiếu một cấu trúc quy hoạch bản sắc nhất quán. Dù giai đoạn 1930 đến 1940 đã bổ sung thêm nhân vật từ thời Hai Bà Trưng, Đinh, Lý, Trần đến các danh nho như Mạc Đĩnh Chi hay Lê Quý Đôn, diện mạo lịch sử trên bảng tên phố vẫn chưa định hình rõ nét tinh thần dân tộc. Bước ngoặt căn bản chỉ diễn ra sau sự kiện ngày 9 tháng 3 năm 1945 khi Đốc lý Hà Nội Trần Văn Lai quyết định đại tu toàn bộ hệ thống địa danh đô thị. Cuộc cải cách này đã xác lập tư duy quy hoạch theo ý niệm quốc gia dân tộc, đưa các vị vua khởi dựng nền độc lập vào những đại lộ trung tâm và sắp xếp danh nhân văn hóa theo từng cụm khu vực. Quyết sách trên không chỉ chấm dứt dấu ấn hành chính thực dân mà còn đặt nền móng quy chuẩn cho bản đồ danh xưng thủ đô lưu giữ giá trị đến tận hôm nay.
amung