Giữ tên làng… mẹ đẻ
Nhớ một đêm mưa năm trước, tôi đến thăm khu homestay của nghệ nhân Ba Na A Biu ở làng Plei Klếch, xã Ngọk Bay, phía tây Quảng Ngãi. Mưa Tây nguyên rả rích, khu homestay vắng khách. Những chùm dây leo buông từ mái nhà, hàng rào xuống lối đi, im lìm trong đêm tối. Giữa không gian tĩnh lặng ấy, câu chuyện về một ngôi làng cũ được ông thủ thỉ kể lại.

Sinh hoạt văn hóa ở nhà rông Kon Klor (phường Kon Tum), nơi người Ba Na có tên làng lấy tên từ cây bông gòn
ẢNH: ĐÌNH CHIỂU
Đã lâu không uống rượu vì căn bệnh đau dạ dày sau những tháng năm lang bạt, đêm ấy A Biu vẫn lấy thứ rượu tự tay ngâm để mời khách. Chén rượu giữa tiết trời se lạnh, lời chuyện trò chân tình quyện với mùi cỏ dại đêm nồng, đưa người nghe ngược dòng ký ức, trở về với ngôi làng đã khuất xa trong dòng thời gian.
A Biu bảo, khu homestay được dựng theo dáng dấp làng Tbâu Klếch xưa. Đó không chỉ là nơi ông đón khách mà còn là cách giữ lại hình bóng làng cũ. Chính từ ngôi làng ấy, ông nội A Biu từng dẫn dân làng tách ra, lập nên Plei Klếch ngày nay.
Rời nơi ở cũ để dựng xây cuộc sống mới, người ông vẫn quyết giữ chữ "Klếch" trong tên làng. Theo lời A Biu, đó là cách để con cháu không quên nơi mình sinh ra, không đánh mất gốc gác, cội nguồn. Một cái tên tưởng chừng giản dị nhưng chất chứa ký ức của cả cộng đồng, nối những người đang sống với bao thế hệ đã đi qua.
Thuở ban đầu, Plei Klếch chỉ có khoảng 10 hộ dân. Theo năm tháng, làng phát triển thành cộng đồng với hàng trăm hộ gia đình sung túc.
Trong ký ức A Biu, ngôi làng hiện lên với con đường dốc thoai thoải dẫn đến nhà rông. Phía sau là cây pơ lang cổ thụ, mỗi độ xuân về lại bung nở hoa đỏ rực một góc trời. Bao quanh nhà rông là những mái nhà sàn Ba Na, còn bên con đường dẫn vào làng, dòng suối Đăk Mômăm róc rách quanh năm.
Những hình ảnh ấy được A Biu mang vào khu homestay của mình. Ông trồng cây khế lớn ngoài cổng, giống như cây khế ở làng cũ. Giữa khu vườn, một gò đá nhô lên, phủ kín dây leo, bên dưới có dòng suối nhỏ được tạo dựng bao quanh. A Biu gọi đó là hang cọp trong truyền thuyết của làng.

Làng Kon K'Tu, được cho là lấy tên từ trận đại dịch hàng trăm năm trước
ẢNH: PHẠM ANH
Từng vách nhà, khoảng sân, lối đi cũng được ông chăm chút bằng những chuỗi dây leo buông thõng. Ban ngày, chúng hòa vào màu xanh khu vườn. Khi đêm xuống, dưới ánh sáng lờ mờ, dây leo uốn lượn như những con trăn đang canh giữ giấc ngủ bình yên. Mỗi góc nhỏ đều hướng về làng xưa, nơi ký ức ông cha vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí người nghệ nhân.
Homestay của A Biu mô phỏng làng cũ, về nơi chôn nhau cắt rốn. Ông làm homestay vừa đón khách vừa để những người đến sau có thể hình dung phần nào cuộc sống của cha ông thuở trước.
Tên làng từ nguồn nước đến những loài cây thân thuộc
Vừa trở lại Plei Tơ Nghia (nay thuộc phường Kon Tum) hồi đầu tháng 10 năm nay, hỏi chuyện tên làng, chúng tôi được một cụ già kể rằng ngày trước bên giọt nước chính của làng có cây kơ nia lớn.
Giọt nước (bến nước) trong văn hóa các dân tộc thiểu số ở Tây nguyên là nguồn nước tự nhiên lấy từ mạch núi, đoạn suối hoặc bến sông rồi dẫn về buôn làng. Đó là nơi người dân tìm đến lấy nước sinh hoạt từ những ngày đầu lập làng.
Với Plei Tơ Nghia, khi thấy có cây kơ nia ở gần giọt nước chính, người làng liền đặt tên vùng đất mới của mình là Tơ Nghia (một cách gọi khác của kơ nia). Cái tên được truyền đời mà không phải cần bia đá, vẫn in sâu trong lòng mỗi người dân làng.

Tên làng ở Kon Tum xưa được đặt tên gắn với cây cỏ, nguồn nước
ẢNH: PHẠM ANH
Ở vùng đất này, những câu chuyện đặt tên làng từ cây cỏ, nguồn nước như thế không hiếm. Một cây cổ thụ, bụi nứa hay giọt nước đầu nguồn cũng đủ trở thành dấu hiệu để tiền nhân gọi tên nơi mình chọn dựng nhà, lập làng.
Như làng Kon Hra, chữ "hra" có nghĩa là cây sung. Theo lời kể của người dân, ngày trước, ngay đầu giọt nước của làng có cây sung lớn. Khi chọn đất định cư, người xưa làm lễ xin phép yàng (thần linh), rồi lấy tên loài cây thân thuộc ấy đặt cho làng. Từ đó, có tên làng Kon Hra.

Làng người Xê Đăng dưới chân núi Ngọc Linh
ẢNH: PHẠM ANH
Làng Đăk Phía, xã Ngọk Réo cũng thế. Tên làng gắn với những bụi nứa mọc quanh giọt nước làng. Trong tiếng địa phương, "phía" là cây nứa. Dòng nước và bụi nứa bình dị đã trở thành dấu hiệu nhận diện vùng đất, được người xưa gửi lại trong tên làng.
Hay Kon Hngor, tên gọi mang ý nghĩa làng cây thông, bởi khu vực này từng có nhiều cây thông. Đó là cách đặt tên mà cho đến nay, cảnh vật có thể đổi thay, cây cũ không còn, giọt nước có thể cạn dòng, nhưng tên làng vẫn ở lại.

Làng Kon Klor là làng có nhiều cây bông gòn
ẢNH: H.THÙY
Ngay gần trung tâm phường Kon Tum hôm nay, làng Kon Klor cũng mang trong mình một câu chuyện như thế. Theo cách lý giải được người dân lưu truyền, "klor" là cây bông gòn. Ngày trước, vùng đất này có nhiều cây bông gòn. Đến mùa quả chín, những sợi bông trắng bay theo gió, phủ khắp không gian. Cảnh tượng ấy trở thành dấu ấn riêng, để rồi làng Kon Klor được đặt tên.
Theo bà Y Chiết, người làng Kon Klor, tên làng được ông cha truyền lại, gắn với quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng. Với bà, tên làng là điều thiêng liêng, thuộc về ký ức của người đang sống và cả những thế hệ đã khuất.
Những huyền thoại gửi lại trong tên đất, tên làng
Trong kho tàng ký ức của người Kon Tum xưa, có những tên làng được đặt theo huyền thoại. Làng Yang Roong, thuộc xã Đăk Cấm ngày nay gắn với câu chuyện ấy.
Chuyện kể rằng khi làng mới hình thành, dân làng được thần linh ban cho một đặc ân kỳ lạ: những người sinh ra ở đây sẽ không bao giờ phải chết. Nhờ vậy, làng ngày càng đông đúc, người già và người trẻ sống bên nhau qua hàng trăm năm. Vì không có ai qua đời, dân làng chẳng biết đến nỗi đau và tiễn biệt người thân đã mất.

Bến nước bên bờ Đăk Bla
ẢNH: PHẠM ANH
Một ngày nọ, chàng trai đi săn trở về, tình cờ ngang qua một làng khác. Tại đây, anh chứng kiến cảnh người dân tụ tập, khóc thương, đánh chiêng, nhảy múa rồi mổ bò, heo làm lễ. Chưa từng thấy cảnh tượng ấy, anh dừng lại hỏi chuyện và được biết đó là đám tang của một người đã mất.
Trở về làng, chàng trai kể lại những điều mình chứng kiến. Tò mò muốn hiểu nghi lễ tiễn biệt người chết, dân làng lên rừng bắt một con vượn có hình dáng gần giống con người, mang về tổ chức đám tang theo những gì đã thấy. Họ khóc, đánh chiêng, nhảy múa và ăn uống.
Việc làm ấy khiến yàng nổi giận, nên thu lại đặc ân bất tử. Từ đó, người trong làng lần lượt qua đời. Hoang mang, dân làng tìm đến thầy cúng, dâng lễ vật màu trắng, từ bò, trâu đến dê, để cầu xin yàng tha thứ. Dẫu vậy, đặc ân đã mất không thể lấy lại.
Trái với câu chuyện mang màu sắc huyền bí của Yang Roong, chuyện kể gắn với vùng Ia Chim lại là bức tranh thanh bình.

Làng người Tà Rẻ ở xã Xốp
ẢNH: PHẠM ANH
Theo lời kể dân gian, thuở trước, vùng đất này có đất đai trù phú, cây trái sum suê và một hồ nước trong lành. Chim chóc từ nhiều nơi bay về ăn quả, uống nước, đậu kín quanh hồ. Khi con người đến khai phá, lập làng, hình ảnh đàn chim trở thành dấu ấn và tên vùng đất này mang tên từ đó.
Theo nhà nghiên cứu văn hóa A Jar (ở làng Plei Đôn, phường Kon Tum), tên làng thường phải tạo được nét riêng, được cộng đồng đồng thuận và gắn với đặc điểm vùng đất.
Có tên làng gắn với dòng suối, giọt nước; có tên bắt nguồn từ loài cây đặc trưng, địa hình nơi cư trú. Lại có tên lưu dấu người có công với làng, hoặc một câu chuyện được truyền qua nhiều đời.
Ngày nay, những đổi thay của đời sống có thể làm tên gọi đã không còn nguyên vẹn. Có thể mất cây cổ thụ, giọt nước xưa, đàn chim không còn đông đúc… nhưng những cái tên như Tơ Nghia, Kon Hra, Đăk Phía, Kon Klor hay Yang Roong vẫn được gọi tên.
Giữ tên làng là bảo tồn một địa danh, gìn giữ những giá trị làm nên bản sắc cộng đồng. Và, điều kỳ diệu nhất của tên làng chính là khả năng níu giữ con người với cội nguồn: dù đi về đâu, khi nghe lại tên làng là gợi nhớ và trở về xứ sở đã sinh ra.