Trước đây, gia đình anh Chau Seng Đương, 42 tuổi, ở xã Tri Tôn, chủ yếu sống bằng tiền công thợ hồ. Công việc bấp bênh, phụ thuộc vào các công trình xây dựng khiến thu nhập không ổn định. Vợ chồng anh thường xuyên chật vật trang trải sinh hoạt và việc học của 6 người con.
Cuộc sống gia đình bắt đầu có thêm hướng đi khi anh được hỗ trợ bò giống từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Ngoài thời gian làm thợ hồ, anh Đương dành công chăm sóc bò, tận dụng nguồn thức ăn sẵn có để giảm chi phí. Anh dự tính giữ lại bê con để nhân đàn, từng bước hình thành nguồn thu nhập ổn định hơn. Nếu chăn nuôi thuận lợi, sau ba năm, đàn bò có thể mang lại cho gia đình hàng chục triệu đồng mỗi năm.
Anh Đương có thêm thu nhập nhờ nuôi bò. Ảnh: Ngọc Tài
"Sau này các con có học đại học cũng có tiền lo cho chúng", anh Đương nói. Với gia đình đông con, thiếu vốn và đất sản xuất như anh, đàn bò không chỉ là tài sản tích lũy mà còn mở thêm cơ hội cải thiện cuộc sống, thay vì hoàn toàn phụ thuộc vào việc làm thuê.
Cũng tại vùng Bảy Núi, mô hình nuôi ong dú kết hợp trồng cây dược liệu đang giúp một số hộ dân có thêm thu nhập. Bà Nèang Xi được địa phương hỗ trợ 10 thùng ong giống, hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc và trồng cây lấy mật. Sau khoảng một năm, bà thu được khoảng 30 triệu đồng từ bán mật ong và ong giống.
Theo bà Xi, ong dú có thể nuôi ngay trong vườn nhà, không cần diện tích lớn hay nhiều công chăm sóc. Người nuôi có thể tận dụng các loại cây ăn trái, thảo dược làm nguồn thức ăn cho ong, đồng thời giảm chi phí đầu tư.
Đặc điểm này phù hợp với điều kiện nhiều khu vực vùng Bảy Núi, nơi đất sản xuất hạn chế, nguồn nước tưới thiếu vào mùa khô. Nhờ đó, người dân có thêm lựa chọn sinh kế bên cạnh các nghề chăn nuôi bò, dê hoặc làm thuê truyền thống.
Ông Chau Kích, Phó bí thư ấp Tô Hạ, xã Tri Tôn, cho biết việc hỗ trợ các mô hình chăn nuôi phù hợp với điều kiện từng hộ đã góp phần cải thiện đời sống người dân. Một số gia đình có nguồn thu nhập ổn định hơn, từng bước thoát nghèo, xây dựng nhà cửa và chăm lo việc học cho con.
Mô hình nuôi ong dú ở vùng Bảy Núi, An Giang. Ảnh: Trung Thành
Các mô hình này nằm trong Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, được triển khai theo định hướng của Nghị quyết 88/2019/QH14 của Quốc hội.
Giai đoạn 2021-2025, An Giang được bố trí hơn 952 tỷ đồng để thực hiện chương trình, gồm nguồn vốn trung ương và ngân sách địa phương đối ứng. Bên cạnh hỗ trợ sinh kế, nguồn lực còn được đầu tư cho giao thông, nước sinh hoạt, nhà ở, giáo dục và các công trình thiết yếu tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo báo cáo tổng kết của tỉnh, đến năm 2025, An Giang hoàn thành 18 trong 21 mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân 1,82% mỗi năm.
Sau sáp nhập, An Giang có khoảng 472.000 người dân tộc thiểu số thuộc 29 dân tộc, chiếm 9,53% dân số. Khoảng 43 xã, phường, đặc khu thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Giai đoạn 2026-2030, tỉnh đặt mục tiêu giảm tỷ lệ nghèo đa chiều tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi bình quân 0,3-0,5% mỗi năm. Cùng với đầu tư hạ tầng, việc hỗ trợ vốn, con giống và kỹ thuật sản xuất tiếp tục là một trong những giải pháp giúp người dân tạo thu nhập, giảm phụ thuộc vào hỗ trợ trực tiếp.
Ngọc Tài