Bỏ qua điều hướng
•

Quốc hiệu Việt Nam từ năm 1804 trong mộc bản triều Nguyễn

Quốc hiệu Việt Nam từ năm 1804 trong mộc bản triều Nguyễn
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Lịch sử xác lập Quốc hiệu Việt Nam năm 1804 là dấu mốc trọng đại, được lưu giữ chân thực qua khối Mộc bản Đại Nam thực lục chính biên.

Nhân chuyến thăm chính thức Vương quốc Bỉ ngày 24/10, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã trao tặng Thư viện Hoàng gia Bỉ bản in dập Mộc bản triều Nguyễn về sự kiện định danh Quốc hiệu Việt Nam.

Tặng phẩm này không chỉ quảng bá một Di sản Tư liệu thế giới vô giá của dân tộc đến với châu Âu, mà còn truyền tải thông điệp mạnh mẽ về một quốc gia có truyền thống lịch sử, luôn tự hào về nền độc lập, tự chủ và sẵn sàng hội nhập, hợp tác bình đẳng với cộng đồng quốc tế.

Cuộc đấu tranh ngoại giao kiên quyết bảo vệ danh xưng dân tộc

Lịch sử xác lập Quốc hiệu Việt Nam năm 1804 là một dấu mốc trọng đại, được lưu giữ chân thực qua khối Mộc bản Đại Nam thực lục chính biên (Đệ nhất kỷ, quyển 23). Việc xác lập quốc hiệu hoàn toàn không phải là sự ban ơn từ thiên triều phương Bắc, mà là kết quả của một cuộc đấu tranh ngoại giao căng thẳng, dựa trên thực lực của một quốc gia vừa hoàn thành công cuộc thống nhất.

Quốc hiệu Việt Nam từ năm 1804 trong mộc bản triều Nguyễn - 1

Mộc bản triều Nguyễn được lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV, đóng tại phường Cam Ly - Đà Lạt, Lâm Đồng (Ảnh: Minh Hậu).

Tháng Giêng năm Giáp Tý (1804), vua Gia Long kiên quyết yêu cầu triều Thanh cải định quốc hiệu thành “Nam Việt”, song yêu sách này bị cự tuyệt do nhà Thanh e ngại danh xưng khơi gợi lại hình ảnh vương quốc Triệu Đà xưa, vốn bao trùm cả Lưỡng Quảng.

Đối mặt với sự từ chối, triều đình Huế đã triển khai nước cờ ngoại giao “cương nhu phối triển”, đưa ra tối hậu thư cứng rắn: “bất doãn tức bất thụ phong” (không chấp thuận đổi quốc hiệu thì sẽ không thụ phong).

Đứng trước một nước Nam hùng mạnh, triều Thanh buộc phải nhượng bộ, chấp nhận đảo chữ thành “Việt Nam”. Đây là một thắng lợi ngoại giao to lớn, bảo toàn trọn vẹn ý niệm về chủ quyền lãnh thổ “Việt” và “Nam”, đồng thời duy trì được môi trường hòa bình ở biên giới phía Bắc để tập trung kiến thiết đất nước.

Quốc hiệu Việt Nam từ năm 1804 trong mộc bản triều Nguyễn - 2

Bản dập Mộc bản về việc vua Gia Long định danh quốc hiệu Việt Nam năm 1804 (Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 23, mặt khắc 13) (Ảnh: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV).

Tuyên ngôn chính trị từ “Chiếu định danh Quốc hiệu”

Sau thắng lợi ngoại giao, ngày 17 tháng 2 năm Giáp Tý (1804), nghi lễ cáo yết và ban chiếu được triều đình cử hành trang trọng. Việc dịch chuyển không gian nghi lễ từ Thái Miếu (báo công với liệt tổ liệt tông) ra Chính điện (thực thi quyền lực tối cao) thể hiện sự kết hợp hoàn hảo giữa tính chính danh đối nội và quyền lực quốc gia.

Văn bản được ban hành mang ý nghĩa như một bản “Chiếu định danh Quốc hiệu Việt Nam” - một mệnh lệnh pháp lý tối cao, phát đi hai thông điệp chiến lược cốt lõi:

Kiến tạo bản sắc thống nhất: Quốc hiệu mới đóng vai trò như một định chế biểu tượng, xóa bỏ vĩnh viễn ranh giới tâm lý Đàng Trong - Đàng Ngoài sau gần ba thế kỷ nội chiến, quy tụ nhân tâm về một quốc gia toàn vẹn.

Quốc hiệu Việt Nam từ năm 1804 trong mộc bản triều Nguyễn - 3

Hơn 3 vạn mộc bản triều Nguyễn được lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV, đóng tại phường Cam Ly - Đà Lạt, Lâm Đồng (Ảnh: Minh Hậu).

Thiết lập trật tự bang giao đa phương: Lệnh cấm nghiêm ngặt việc sử dụng danh xưng “An Nam” - vốn do các triều đại phương Bắc áp đặt - là sự khước từ dứt khoát tư duy nô dịch và bảo vệ thể diện quốc gia. Đồng thời, triều đình hạ lệnh dùng quốc báo gửi tới Xiêm La, Lữ Tống, Chân Lạp, Vạn Tượng, khẳng định vị thế trung tâm văn minh độc lập và thiết lập trật tự bang giao chủ động, bình đẳng tại khu vực Đông Nam Á.

Minh chứng trường tồn cho vị thế kiêu hãnh

Mộc bản triều Nguyễn ghi chép lại sự kiện này tuân thủ nghiêm ngặt quy định điển chế cung đình, áp dụng kỹ thuật đài kính (nâng cao cột chữ) đối với các danh xưng tôn nghiêm như: Hoàng đế, Thái Miếu, Từ Cung, Thế miếu, Quốc hiệu. Phía sau những cột chữ khắc gỗ mang đậm tính nghi lễ và trật tự chính trị ấy là cả một quá trình đấu tranh khôn khéo cùng tư duy kiến tạo quốc gia vững vàng.

Món quà ngoại giao văn hóa được trao tặng tại Vương quốc Bỉ đã vượt lên trên một hiện vật lịch sử đơn thuần, trở thành minh chứng trường tồn cho năng lực quản trị, ý thức chủ quyền lãnh thổ và vị thế kiêu hãnh của dân tộc Việt Nam.

Đặng Thanh Tùng, Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước

Sự kiện Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trao tặng bản in dập Mộc bản triều Nguyễn về việc định danh Quốc hiệu Việt Nam cho Thư viện Hoàng gia Bỉ đã khẳng định giá trị trường tồn của một Di sản Tư liệu thế giới. Căn cứ khối Mộc bản Đại Nam thực lục chính biên, dấu mốc năm 1804 phản ánh bản lĩnh của một dân tộc kiên quyết bảo vệ nền độc lập tự chủ và sẵn sàng hội nhập bình đẳng. Tặng phẩm ngoại giao này thể hiện chiều sâu văn hóa cùng tính chính danh lịch sử của quốc gia trên trường quốc tế. Việc xác lập danh xưng Việt Nam dưới triều vua Gia Long là thành quả của cuộc đấu tranh ngoại giao kiên quyết dựa trên thực lực đất nước vừa thống nhất. Khi triều Thanh cự tuyệt đề xuất Nam Việt vì e ngại lãnh thổ Triệu Đà xưa, triều đình Huế đã thực thi sách lược cương nhu phối triển với tối hậu thư không chấp thuận đổi quốc hiệu thì sẽ không thụ phong. Nhượng bộ của phương Bắc khi chấp thuận đảo thành Việt Nam vừa bảo toàn trọn vẹn chủ quyền lãnh thổ, vừa duy trì hòa bình biên giới để kiến thiết giang sơn. Nghi lễ ban Chiếu định danh Quốc hiệu vào ngày 17 tháng 2 năm Giáp Tý 1804 mang ý nghĩa như một tuyên ngôn pháp lý tối cao nhằm kiến tạo bản sắc thống nhất. Quyết sách này xóa bỏ vĩnh viễn ranh giới tâm lý chia cắt giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài sau gần ba thế kỷ nội chiến triền miên. Đồng thời, việc nghiêm cấm danh xưng An Nam thể hiện nỗ lực thiết lập trật tự bang giao bình đẳng, củng cố vị thế vững chắc của non sông liền một dải.
amung