Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến dự thảo Quyết định sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 34/2025/QĐ-TTg ngày 15/9/2025 của Thủ tướng Chính phủ về Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước.
Theo tài liệu lấy ý kiến dự thảo, từ năm 2020 đến hết ngày 30/6, Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước đã tiếp nhận tổng cộng 641 hồ sơ đề nghị hỗ trợ. Trong đó, quỹ đã thực hiện chi hỗ trợ cho 617 trường hợp với tổng kinh phí gần 18,8 tỷ đồng và từ chối hỗ trợ 24 trường hợp do không đủ điều kiện theo quy định pháp luật.
Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước đã hỗ trợ cho 617 trường hợp (Ảnh minh họa: Sơn Nguyễn).
Từ kết quả thực hiện trên, Bộ Nội vụ đánh giá Quyết định số 34/2025/QĐ-TTg đã tạo niềm tin vững chắc cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Theo đó, chỉ với mức đóng góp nhỏ (100.000 đồng/lao động/hợp đồng) đã giúp người lao động nhận được sự hỗ trợ đảm bảo quyền lợi tài chính và pháp lý khi đối mặt với rủi ro.
Khi không may gặp sự cố (sức khỏe, vấn đề phát sinh ngoài tầm kiểm soát…) buộc phải về nước trước thời hạn của hợp đồng, hoặc gặp các vấn đề tranh chấp pháp lý với chủ sử dụng lao động, người lao động không bị bỏ mặc tự xoay sở. Họ nhận được hỗ trợ thiết thực từ Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.
Trong trường hợp xảy ra tử vong hoặc mất tích trong thời gian làm việc ở nước ngoài, thân nhân của người lao động được quan tâm hỗ trợ kịp thời, góp phần giảm gánh nặng tài chính, chia sẻ mất mát.
Ngoài ra, khi hoàn thành hợp đồng đúng hạn và về nước, người lao động được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp.
Đối với doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, quá trình triển khai Quyết định số 34/2025/QĐ-TTg đã giúp doanh nghiệp tối ưu hoá chi phí vận hành, giảm rủi ro pháp lý và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Trước đây, khi xảy ra các vụ việc bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh, chủ sử dụng lao động nước ngoài phá sản) hoặc các rủi ro nghiêm trọng (người lao động bị ngược đãi, tai nạn, tử vong…), doanh nghiệp thường phải tự ứng trước hoặc gánh chịu những khoản chi phí phát sinh rất lớn để giải quyết.
Quyết định 34/2025/QĐ-TTg giúp doanh nghiệp giảm bớt áp lực này nhờ các cơ chế hỗ trợ tài chính trực tiếp từ Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước. Cơ chế hỗ trợ này bao gồm hỗ trợ chi phí đi lại xử lý sự cố và chia sẻ chi phí hậu sự cho người lao động.
Khi người lao động phải về nước trước hạn do các nguyên nhân khách quan, doanh nghiệp thường đối mặt với các vụ việc khiếu nại, đòi bồi thường hoặc tranh chấp hợp đồng.
Khi triển khai Quyết định số 34/2025/QĐ-TTg, Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước thực hiện chi trả các khoản kinh phí hỗ trợ trực tiếp cho người lao động đã gián tiếp giúp doanh nghiệp dịch vụ giải toả áp lực có thể dẫn đến xung đột lợi ích, kiện tụng kéo dài giữa người lao động và doanh nghiệp dịch vụ.
Ngoài ra, Quyết định số 34/2025/QĐ-TTg cho phép doanh nghiệp dịch vụ được hạch toán khoản đóng góp vào Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước (150.000 đồng/lao động/hợp đồng) vào chi phí hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Điều này giúp doanh nghiệp dịch vụ giảm bớt nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp một cách hợp pháp, biến một khoản phí bắt buộc thành chi phí vận hành được khấu trừ chính thức, tối ưu hóa dòng tiền hoạt động.
Theo Bộ Nội vụ, việc triển khai Quyết định số 34/2025/QĐ-TTg còn giúp nâng cao uy tín, thương hiệu và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Cụ thể, doanh nghiệp đóng góp đầy đủ theo quy định và tận dụng tốt cơ chế hỗ trợ từ Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước sẽ được người lao động tin tưởng, yên tâm đăng ký với doanh nghiệp để đi làm việc ở nước ngoài. Qua đó, giúp doanh nghiệp thu hút, tạo nguồn lao động có chất lượng.
Các nghiệp đoàn, chủ sử dụng lao động nước ngoài cũng có xu hướng đánh giá cao các doanh nghiệp dịch vụ trong nước có cơ chế đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động.
Do vậy, việc doanh nghiệp dịch vụ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng góp Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước sẽ giúp nâng tầm uy tín, thương hiệu, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong việc đàm phán hợp đồng cung ứng lao động với các đối tác nước ngoài.