Bỏ qua điều hướng
•

Subaru Forester 2026 - đằng sau sự bảo thủ là gì?

Subaru Forester 2026 - đằng sau sự bảo thủ là gì?
Nguồn ảnh: VnExpress

Khách mua Forester với mức giá thuộc hàng đắt nhất phân khúc, đổi lại, họ sở hữu những giá trị nổi trội về cảm giác lái, an toàn.

Trong ngành ôtô, bảo thủ mù quáng có thể làm lao đao, thậm chí giết chết một thương hiệu. Nhưng cố gìn giữ giá trị tích cực, những thứ đặc trưng thuộc về DNA, lại là chất keo vô hình kết dính khách hàng.

Subaru là hãng Nhật, nơi thường được nhắc về sự bảo thủ trong triết lý chế tạo xe ở cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nhiều chủ sở hữu xe Subaru cũng tự nhận mình là "bảo thủ" vì họ thích sự bảo thủ tích cực trong cách làm xe của hãng này.

"Subaru là một kiểu khác so với các hãng phổ thông Nhật", Trần Hải, một người tự nhận là fan trung thành của hãng, đã sở hữu Forester phiên bản nhập Thái Lan và mua thêm chiếc Forester nhập Nhật, nói. "Thiết kế không nịnh mắt, tiện nghi, option không hào nhoáng nhưng chất lái, an toàn khiến người dùng rồi thì thường không dứt ra được".

Khác bản tiền nhiệm nhập Thái Lan, Forester thế hệ thứ 6 đang bán ở Việt Nam nhập Nhật Bản kèm giá bán thuộc hàng đắt nhất phân khúc, ở mức 1,299-1,399 tỷ đồng. Một lần nữa, chiếc xe bán chạy nhất của Subaru tại Việt Nam tiếp tục khiến những khách hàng trung thành như Hải thấy hài lòng ở khía cạnh tổng thể. Nhưng số khác, đặc biệt người mua lần đầu hoặc mới có ý định tiếp cận Forester, đứng trước những cân đo đong đếm vì giá bán, vì những thứ rất đặc trưng của Subaru ở thiết kế, trang bị.

So với đời trước, Subaru Forester hiện hành là một cuộc lột xác về thiết kế ngoại thất. Nhưng đừng trông chờ Forester mềm mại, trung tính như những đối thủ đồng hương hay Hàn Quốc.

Forester mới không có nhiều nét góc cạnh, thay vào đó là những mảng khối đầy đặn. Thiết kế mặt ca-lăng, cản trước, sau đơn giản, mạnh mẽ. Chất việt dã thể hiện rõ ở ốp hông, vòm bánh lớn, thanh chằng đồ trên nóc phục vụ các chuyến đi rừng, dã ngoại. Khoảng sáng gầm của xe ở mức 220 mm, cao hàng đầu nhóm CUV cỡ C và ngang ngửa một số mẫu bán tải cỡ nhỏ như Nissan Navara, Mitsubishi Triton.

Người dùng thường không đánh giá cao Subaru ở khoản thiết kế bóng bẩy. Trên thế hệ mới, điều này cũng vậy. Nhưng so với bản cũ, Forester đã cập nhật xu hướng hơn, hiện đại hơn. Như kiểu đèn pha LED phân tầng, tách biệt đèn định vị đang là phong cách thịnh hành trong ngành ôtô. Đèn hậu thu hút hơn khi thiết kế mảnh và tối giản. Tổng thể mẫu xe Nhật năng động hơn, bớt đi sự đơn điệu ở phần nhìn.

Nội thất Forester thế hệ mới phảng phất cách sắp xếp các chi tiết trên bản tiền nhiệm nhưng mọi thứ được làm mới và trau chuốt hơn. Chiếc xe vẫn sở hữu những thế mạnh vốn có như không gian rộng rãi ở tất cả các ghế. Hàng ghế sau thiết kế lõm lưng, bệ đỡ đùi lớn, giảm sự mệt mỏi khi đi đường dài. Hãng tạo các phần lõm trên cánh cửa hay táp-lô để tối ưu diện tích sử dụng, đồng thời bố trí thêm nhiều hộc để ly.

Forester trang bị ghế da cho bản cao iS-EyeSight, bản thấp hơn là iL-EyeSight dạng nỉ. Trong khi nhiều đối thủ trang bị đồng hồ tốc độ dạng LCD, mẫu xe Subaru vẫn là dạng analog kèm màn hình kỹ thuật số nhỏ truyền thống. Màn hình giải trí trung tâm 11,6 inch cảm ứng là điểm nhấn bóng bẩy trong khoang lái. Những thứ còn lại, từ nút bấm, giao diện vô-lăng, cần số đều thiết kế đơn giản, thực dụng, dễ thao tác.

Trên cả hai phiên bản nhập Nhật Bản của Forester, tất cả các ghế đều chỉnh điện, 10 hướng vị trí ghế lái và 8 hướng ghế hành khách. Điều hòa tự động hai vùng, âm thanh 6 loa, kết nối Apple CarPlay/Android Auto không dây là các trang bị tiêu chuẩn. Bản cao nhất có thêm sạc không dây, gương chiếu hậu chống chói.

Chất thực dụng trong thiết kế nội thất Forester có thể không thu hút nhiều người, đặc biệt giới trẻ, nhưng cho cảm giác thân thiện, dễ dùng, dễ làm quen kể cả với người mới tiếp xúc lần đầu. Xe đưa người dùng về mục đích nguyên bản của ôtô, lên xe là lái, không phải phân tâm bởi những thứ rườm rà.

Subaru Forester sở hữu tầm nhìn phía trước thoáng nhưng phần nào hạn chế hai bên do cột A khá lớn. Nếu quen với kiểu vô-lăng nhẹ, có thể xoay trở với vài ngón tay trên các mẫu xe cùng phân khúc như Mitsubishi Destinator, Mazda CX-5..., tài xế cầm lái mẫu xe Subaru thường có cảm giác nặng hơn. Độ phản hồi tay lái và mức độ chính xác khi điều hướng bánh xe của Forester thuộc nhóm đầu phân khúc.

Ở thế hệ mới, Forester cải thiện khả năng cách âm hơn nhiều so với thế hệ cũ. Khi mở nhạc và di chuyển từ 80 km/h trở lên trên cao tốc, độ ồn từ lốp, mặt đường hay động cơ vọng vào khoang cabin đều ở mức dễ chịu. Cấu trúc khung gầm chắc chắn và hệ thống treo thiết lập ở mức trung tính, không quá mềm, không quá cứng, đem đến độ cân bằng tốt cho mẫu xe Nhật. Chưa kể thiết kế máy Boxer đối xứng với vị trí đặt thấp hơn các loại động cơ thông thường, giúp Forester có trọng tâm thấp, bù lại khoảng sáng gầm cao. Khi đánh lái liên tục ở tốc độ cao hoặc chuyển hướng đột ngột ở các góc cua tay áo, mẫu xe Subaru không hoặc ít cho cảm giác bị mất kiểm soát, thứ khó định lượng nếu chỉ nhìn vào các thông số trên giấy.

Khả năng vận hành là một điểm mạnh của Forester.

Subaru Forester tại hồ thủy điện Núi Một, Gia Lai, tháng 6/2026. Ảnh: Thành Nhạn

Sự xuất hiện của động cơ 2.5 hút khí tự nhiên thay cho loại 2.0 đời cũ gần như thỏa mãn giới yêu thích xe Subaru Forester. Máy 2.5 với công suất 185 mã lực tại vòng tua 5.800 vòng/phút, mô-men xoắn 247 Nm tại 3.700 vòng/phút (so với 156 mã lực, 196 Nm của máy 2.0) cho độ bốc, tăng tốc khác biệt hoàn toàn. Hãng thiết lập chân ga khá nhạy, những nhịp chạm đầu đã đủ giúp xe vọt lên.

Vận hành Forester vẫn là chất mượt mà đặc trưng nhờ hộp số Lineartronic CVT (8 cấp số ảo) do Subaru phát triển. Hộp số cho cảm giác tăng tốc đều, đi cùng là khả năng giữ tua để chuẩn bị cho các nhịp ga kế tiếp khi chọn chế độ lái Sport (S). Người dùng có thể chủ động sức kéo hay khả năng tăng tốc của xe bằng lẫy chuyển số sau vô-lăng.

Cả hai phiên bản của mẫu xe Subaru đều có hệ thống định hướng mô-men xoắn, tức phân bổ lực kéo đến các bánh tùy điều kiện thực tế. Cùng hệ dẫn động 4 bánh toàn thời gian, Forester cho thấy độ bám đường tốt ở nhiều kiểu vận hành như đường khô, ướt, trơn trượt. Về khoản này, mẫu xe Subaru nhỉnh hơn phần lớn đối thủ.

Với chế độ X-Mode, Forester cho phép người lái lựa chọn các điều kiện địa hình như sỏi, đá, bùn, tuyết trên màn hình cảm ứng (núm xoay ở bệ tỳ tay bản cũ). Phần còn lại, xe tự thiết lập mức độ phản hồi ga, mô-men xoắn, tỷ số truyền của động cơ... để tối ưu khả năng off-road.

Thứ được đánh giá cao trên các mẫu xe Subaru nói chung còn là an toàn, một trong những triết lý lâu đời của hãng Nhật. Forester có thể không nổi trội ở khoản tiện nghi nội thất nhưng công nghệ an toàn thuộc nhóm đầu. Hãng gọi gói công nghệ an toàn hỗ trợ lái và phòng tránh va chạm là EyeSight, loại sử dụng các camera lắp đặt phía trước kính chắn gió để thu thập thông tin, dữ liệu. Các tính năng trên xe như kiểm soát hành trình thích ứng, hỗ trợ giữ làn, đánh lái khẩn cấp tự động, phanh tự động phòng tránh va chạm, hỗ trợ dừng xe khẩn cấp...

Subaru Forester hiện là mẫu xe thương hiệu Nhật duy nhất nhập Nhật trong phân khúc CUV cỡ C. Mức giá từ 1,299 tỷ đồng của xe thuộc hàng đắt nhất phân khúc. Giá cao, thiết kế thực dụng là những trở ngại để Forester tiếp cận người dùng. Nhưng cảm giác lái và tính năng an toàn vẫn là những khía cạnh nổi trội của mẫu xe Subaru.

Thành Nhạn

Giữa làn sóng hiện đại hóa ồ ạt của phân khúc crossover cỡ C, Subaru Forester thế hệ thứ 6 chọn lối đi riêng khi kiên định duy trì các giá trị cốt lõi về vận hành và an toàn. Mẫu xe nhập khẩu nguyên chiếc từ Nhật Bản hiện có mức giá 1,299 đến 1,399 tỷ đồng, thuộc nhóm đắt đỏ bậc nhất thị trường Việt Nam. Rào cản chi phí này đặt ra bài toán cân nhắc lớn với nhóm khách hàng mua xe lần đầu, bất chấp sức hút khó cưỡng đối với tệp người dùng trung thành. Ngoại thất xe rũ bỏ sự đơn điệu cũ để chuyển sang các mảng khối đầy đặn, khỏe khoắn với cụm đèn pha LED phân tầng hợp thời cùng đèn hậu thanh mảnh. DNA việt dã vẫn hiện diện đậm nét qua vòm bánh lớn, thanh chằng nóc tiện dụng và khoảng sáng gầm 220 mm tương đương nhiều mẫu bán tải cỡ nhỏ. Phong cách tạo hình này không chạy theo thị hiếu số đông mà ưu tiên tối đa tính thực dụng trên nhiều điều kiện địa hình phức tạp. Khoang cabin tiếp tục phản ánh triết lý chế tạo bảo thủ tích cực khi đặt trải nghiệm thực tế của hành khách lên trên vẻ hào nhoáng công nghệ. Không gian ngồi rộng rãi với hàng ghế sau tối ưu công thái học, kết hợp cùng màn hình giải trí trung tâm 11,6 inch đặt cạnh cụm đồng hồ analog truyền thống. Từng chi tiết hoàn thiện đều hướng đến độ bền bỉ, giúp Forester bảo lưu bản sắc cơ khí khác biệt và duy trì sợi dây gắn kết bền chặt với người yêu xe.
amung