Bỏ qua điều hướng
•

Tại sao thỏi bạc 10 lạng nặng nhẹ khác nhau?

Tại sao thỏi bạc 10 lạng nặng nhẹ khác nhau?
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Theo nghiên cứu, cùng là thỏi 10 lạng bạc thời vua Gia Long, nhưng khi cân lên lại nặng nhẹ khác nhau.

Giải mã những dòng chữ trên thỏi bạc

Nhóm nghiên cứu 4 người gồm Lê Cảnh Lam, Nguyễn Quang Miên, Lê Hải Đăng, Châu Anh Tuấn (của Viện Khảo cổ học và Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội) đã cùng phân tích 13 thỏi bạc thời Gia Long, được tìm thấy trong quá trình khảo sát tại một số tỉnh miền núi phía bắc. Trong số này, có 9 thỏi được ghi nhận là thỏi bạc 10 lạng. "Các hiện vật mang dòng chữ liên quan đến "Giáp công", "trung bình", "bảo 10 quan", cho thấy chúng gắn với một hệ thống quy định về đơn vị và kiểm soát bạc", báo cáo nghiên cứu công bố tại Hội nghị thông báo khảo cổ học toàn quốc 2026 cho biết.

Tại sao thỏi bạc 10 lạng nặng nhẹ khác nhau?- Ảnh 1.

Nghiên cứu thỏi bạc 10 lạng cho thấy những trọng lượng khác nhau

ẢNH: LÊ CẢNH LAM

Nhóm nghiên cứu cho biết, theo đơn vị trọng lượng thời Nguyễn, 10 lạng được quy đổi thành 377,8 g bạc. Tuy nhiên, trọng lượng thực cân của các mẫu dao động từ 364 - 384 g, nghĩa là có hiện tượng thỏi bạc có trọng lượng nặng nhẹ khác với trọng lượng quy đổi. Nhóm nghiên cứu cũng phân tích đĩnh bạc 10 lạng của nhà Thanh Trung Quốc, đĩnh bạc này chỉ nặng 359 g.

Nhóm nghiên cứu cũng phân tích hàm lượng kim loại trong các thỏi bạc nói trên. Phần lớn kết quả cho thấy hàm lượng bạc dao động từ 95,09 - 99,46%. Ngoài bạc còn có đồng, thiếc và chì ở mức thấp. Trong khi đó, phân tích đĩnh bạc nhà Thanh cho thấy hiện vật có thành phần bạc 97,6%, đồng là hơn 2%...

Sự chênh lệch về trọng lượng và thành phần kim loại của những thỏi bạc cùng được ghi là 10 lạng đặt ra câu hỏi: phải chăng vua Gia Long đã đúc tiền "thiếu cân lượng"? Nhóm nghiên cứu cho rằng từ sự thay đổi đó, có thể hiểu thỏi bạc Gia Long là một dạng tiền bằng bạc, chứ không đơn thuần là một vật dùng để cân đủ một trọng lượng bạc cố định. Trọng lượng có thể tăng giảm cho phù hợp với các loại tiền bạc của Trung Quốc hay các nước khác. Nó không phải là đơn vị trọng lượng cố định mà là quan tiền có hình dạng thỏi mang mệnh giá 10 lạng.

Tại sao thỏi bạc 10 lạng nặng nhẹ khác nhau?- Ảnh 2.

Mặt sau của thỏi bạc 10 lạng

ẢNH: LÊ CẢNH LAM

Nhóm cũng có các phán đoán về đọc dấu hiệu trên những thỏi bạc 10 lạng thời Nguyễn này. Theo đó, "Giáp công" được nhóm tác giả hiểu là dấu của Bộ Công trên thỏi bạc. "Chính ngân" được hiểu là bạc ròng hay bạc có độ tinh khiết cao. "Trung bình" không phải là sai số giữa các thỏi nặng nhẹ khác nhau, mà là một dấu đóng cho phép lưu thông sau khi đã trải qua một quy trình kiểm định về hàm lượng và trọng lượng đáp ứng chỉ tiêu giá. 

Chẳng hạn vua Gia Long quy định 1 quan tiền bạc tương đương 2 quan 8 mạch tiền đồng. Khi đồng đắt lên thì 1 quan tiền bạc nhẹ xuống, khi giá tiền đồng rẻ đi thì lượng bạc lại tăng nặng lên. Cụm "bảo 10 quan" cho thấy mối liên hệ giữa thỏi 10 lạng và đơn vị 10 quan được ghi trên hiện vật.

Điều chỉnh khối lượng, hàm lượng để thích ứng thị trường

Theo nhóm nghiên cứu, các thỏi bạc thời Gia Long cần được xem xét trước hết như một dạng tiền tệ bằng bạc, chứ không đơn thuần là những thỏi bạc được sản xuất nhằm đạt một khối lượng vật lý cố định. Các dòng chữ ghi giá trị tiền trên thỏi cho thấy thỏi bạc đồng thời mang thông tin về loại bạc, đơn vị định lượng và giá trị tiền tệ. Tư liệu của Trung Quốc cũng từng ghi nhận giá trị của tiền An Nam và quy đổi theo chuẩn cân Khố Bình của Trung Quốc. Hiện vật Gia Long tại Bảo tàng Lịch sử Đài Loan cũng được phân loại là tiền tệ, có dòng chữ xác định giá trị bằng tiền đồng. 

"Những tư liệu này cho thấy khối lượng, hàm lượng bạc, dấu kiểm định và giá trị tiền tệ là những yếu tố cùng tham gia vào việc xác lập giá trị của thỏi bạc", báo cáo khảo cổ cho biết.

Theo cách tiếp cận này, sự dao động khối lượng của các thỏi bạc không nhất thiết phải được xem đơn thuần là sai số của cân hoặc sai số của kỹ thuật đúc. Đặc biệt, khi đặt các thỏi bạc Việt Nam trong quan hệ với các đĩnh bạc Trung Quốc cùng danh nghĩa, cần xem xét khả năng khối lượng thực tế được điều chỉnh để phù hợp với giá trị trao đổi và chuẩn bạc đang lưu hành trong khu vực.

Tại sao thỏi bạc 10 lạng nặng nhẹ khác nhau?- Ảnh 3.

Những thỏi bạc 1 lạng

ẢNH: LÊ CẢNH LAM

Nhóm nghiên cứu trích dẫn cơ chế quản lý bạc dưới thời Gia Long được ghi trong Đại Nam thực lục. Theo đó, tháng 5 năm Gia Long thứ 2 (1803), Hộ bộ Bắc Thành Nguyễn Văn Khiêm tâu về tình trạng bạc thỏi thời Tây Sơn bị pha nhiều thiếc, kẽm, thậm chí có thỏi không đủ phân lạng, và xin khi đúc bạc phải khắc chữ để làm tin. Vua Gia Long chấp thuận và giao cho Trần Bình Ngũ làm Trung Bình hầu và chế tạo Trung bình cân làm cân chuẩn, sau đó phổ biến sử dụng, quy định rằng: "Phàm vàng thoi bạc thoi công hay tư, có dấu trung bình của ngươi thì mới được thông dụng".

Quy định này cho thấy Nhà nước Gia Long trực tiếp can thiệp vào việc kiểm định, xác nhận và cho phép vàng bạc thỏi lưu thông, với giá trị tiền tệ được ghi trên thỏi. Nó cũng mở ra khả năng có một cơ chế chủ động điều chỉnh khối lượng và hàm lượng nhằm duy trì giá trị tiền tệ và khả năng thích ứng của bạc tiền Gia Long với thị trường trong nước và khu vực. 

"Như vậy có thể Trung bình cân là một chiếc cân vừa xác định được hàm lượng bạc theo cơ chế cân tỷ trọng vừa cân được chính xác trọng lượng bạc theo cơ chế cân tiểu ly", ông Lam suy luận.

Theo ông Lê Cảnh Lam, nghiên cứu theo hướng này còn có một ý nghĩa là dần xác định được giá trị kim loại cổ, từ đó đánh giá được kinh tế - xã hội, những biến đổi trong xã hội. "Một kim loại nào đó đột ngột mất đi, chuỗi cung ứng đứt gãy, thì kim loại đó trở nên quý giá. Chẳng hạn, trong các mộ cuối Đông Sơn thì vẫn chôn các hiện vật tùy táng, hợp kim của nó là chì chẳng hạn. Thông thường, người ta vẫn xếp đồ chì là rẻ tiền, nhưng kiểm định giá nếu xác định chì rất đắt, thì chì là đồ quý. Nó quý có thể do chiến tranh khiến khai thác chì kém đi, chì trở nên quý hơn và người ta đưa vào trong mộ táng", ông Lam nói. (còn tiếp)

Nghiên cứu của nhóm chuyên gia thuộc Viện Khảo cổ học và Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội trên 13 thỏi bạc thời Gia Long đã hé mở bí ẩn về sự chênh lệch cân nặng giữa các hiện vật cùng mang định danh 10 lạng. Dù quy chuẩn thời Nguyễn quy đổi 10 lạng thành 377,8 g, trọng lượng thực cân của các mẫu khảo sát tại miền núi phía bắc lại dao động từ 364 đến 384 g, với độ tinh khiết đạt 95,09 đến 99,46%. Con số này cũng khác biệt đáng kể khi đặt cạnh đĩnh bạc 10 lạng triều Thanh vốn chỉ nặng 359 g và chứa 97,6% bạc. Hiện tượng sai lệch cân lượng không bắt nguồn từ việc đúc thiếu mà xuất phát từ bản chất tiền tệ của thỏi bạc thời Nguyễn. Các dòng minh văn như "Giáp công", "Chính ngân" hay "bảo 10 quan" phản ánh quy trình đúc, kiểm định và xác lập mệnh giá chặt chẽ dưới sự quản lý của Bộ Công. Chữ "Trung bình" đóng trên thân thỏi là dấu chuẩn chi lưu thông, chứng nhận thỏi bạc đạt chỉ tiêu giá trị thay vì biểu thị sai số cơ học. Khác với thước đo kim loại cố định, thỏi bạc thời bấy giờ vận hành như đồng tiền mang mệnh giá linh hoạt nhằm thích ứng với biến động thị trường. Trọng lượng và hàm lượng thực tế được điều chỉnh theo tương quan tỷ giá giữa tiền bạc với tiền đồng, cũng như phù hợp trong giao thương đối ngoại. Việc tăng giảm khối lượng bạc phản ánh chính sách tiền tệ thực tiễn của triều Gia Long nhằm bảo đảm ổn định lưu thông hàng hóa.
amung