Bỏ qua điều hướng
•

Tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho đại úy Nguyễn Văn Tích

Tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho đại úy Nguyễn Văn Tích
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Chủ tịch nước đã ký quyết định tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho đại úy Nguyễn Văn Tích vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ngày 29.9, tại xã Vũ Quý (Hưng Yên) đã diễn ra lễ trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cho đại úy Nguyễn Văn Tích, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 263, Sư đoàn 367, Quân chủng Phòng không - Không quân (Bộ Quốc phòng).

Trung tá 96 tuổi nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Ảnh 1.

Thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, lãnh đạo Sư đoàn 367 trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho đại úy Nguyễn Văn Tích

ẢNH: THẾ DUYỆT

Tại buổi lễ, thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, đại tá Đặng Hồng Tuân, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 367, Quân chủng Phòng không - Không quân, cùng đại diện lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn đã trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho đại úy Nguyễn Văn Tích.

Đại úy Nguyễn Văn Tích (96 tuổi), sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước tại xã Vũ Quý. Ông tham gia cách mạng từ năm 15 tuổi, được kết nạp Đảng năm 22 tuổi.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông trực tiếp tham gia bảo vệ các tuyến vận chuyển lương thực, vũ khí. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông chuyển sang lực lượng pháo binh, trải qua nhiều vị trí công tác.

Năm 1965, khi lực lượng tên lửa phòng không ra đời, ông được chuyển sang đào tạo sử dụng loại vũ khí mới và trở thành cán bộ chỉ huy chiến đấu của bộ đội tên lửa chống lại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ở miền Bắc.

Trên các cương vị tiểu đoàn trưởng, phó trung đoàn trưởng và trung đoàn trưởng, ông đã cùng đơn vị lập nhiều chiến công xuất sắc. Đặc biệt, ngày 2.1.1969, ông trực tiếp chỉ huy đơn vị bắn hạ máy bay không người lái 147J của Mỹ.

Thời kỳ từ 2.1 - 28.8.1969, ông trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 56 bắn rơi 4 máy bay không người lái của Mỹ. Từ tháng 10.1972 - tháng 1.1973, ông Tích tiếp tục trực tiếp chỉ huy các Tiểu đoàn 41, 43, 44 và 56 chiến đấu nhiều trận quyết liệt, bắn rơi 7 máy bay B-52, góp phần cùng quân và dân cả nước đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, Trung đoàn 263 nhận lệnh cơ động vào bảo vệ vùng giải phóng Quảng Trị, ông Tích được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng.

Đầu năm 1975, ông cùng cán bộ chỉ huy của trung đoàn đưa các chiến sĩ hành quân cơ động, đưa khí tài vượt Trường Sơn, qua đất bạn Lào vào chiến trường miền Đông Nam bộ tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông Tích tiếp tục phục vụ trong quân đội rồi nghỉ hưu từ năm 1982 với quân hàm trung tá.

Ngày 29 tháng 9, tại xã Vũ Quý, đại tá Đặng Hồng Tuân, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 367 thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân đã thừa ủy quyền của Chủ tịch nước trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho đại úy Nguyễn Văn Tích. Danh hiệu cao quý này nhằm vinh danh những đóng góp đặc biệt xuất sắc của nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 263 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sinh ra tại gia đình có truyền thống yêu nước, ông Tích tham gia cách mạng từ năm 15 tuổi, được kết nạp Đảng năm 22 tuổi và nhanh chóng trở thành cán bộ chỉ huy chủ lực của lực lượng tên lửa phòng không. Trong cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ở miền Bắc, ông Tích trực tiếp chỉ huy các đơn vị tên lửa lập nhiều chiến công nổi bật. Từ năm 1969 đến đầu năm 1973, ông đã lãnh đạo Tiểu đoàn 56 cùng các Tiểu đoàn 41, 43 và 44 bắn rơi 5 máy bay không người lái cùng 7 máy bay B-52. Những thắng lợi xuất sắc đó đã góp phần trực tiếp cùng quân dân cả nước đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ trên không. Sau mốc thời gian bảo vệ vùng giải phóng Quảng Trị, trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 263, ông Tích tiếp tục chỉ huy bộ đội đưa khí tài vượt Trường Sơn và qua đất bạn Lào vào chiến trường miền Đông Nam Bộ. Đơn vị của ông đã tham gia chiến đấu trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước. Sau khi đất nước hòa bình, ông tiếp tục phục vụ trong lực lượng quân đội cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1982 với quân hàm trung tá.