Bỏ qua điều hướng
•

Tăng lương tối thiểu, trợ cấp thất nghiệp cao nhất ra sao?

Tăng lương tối thiểu, trợ cấp thất nghiệp cao nhất ra sao?
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Với việc Chính phủ tăng lương tối thiểu vùng từ 1-1-2027, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng tối đa, mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp cùng nhiều khoản khác cũng tăng theo.

Tăng lương tối thiểu, trợ cấp thất nghiệp cũng tăng   - Ảnh 1.

Công nhân sản xuất tại một nhà máy vốn FDI ở Ninh Bình - Ảnh: HÀ QUÂN

Chính phủ vừa có nghị định số 399/2026 về tăng lương tối thiểu vùng, mức tăng cao nhất là 390.000 đồng, áp dụng từ ngày 1-1-2027. Theo đó, lương tối thiểu vùng chia làm 4 vùng.

Vùng 1 là 5,7 triệu đồng/tháng; vùng 2 là 5,08 triệu đồng/tháng; vùng 3 là 4,45 triệu đồng/tháng và vùng 4 là 4,04 triệu đồng/tháng.

Theo Bộ luật Lao động 2019, mức lương theo công việc hoặc chức danh mà doanh nghiệp trả cho người lao động không được thấp hơn lương tối thiểu. Do vậy người hưởng lương ngang lương tối thiểu sẽ được điều chỉnh cao hơn từ đầu năm 2027. 

Khi tăng lương, mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động và doanh nghiệp cũng có thể tăng theo, do tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội được điều chỉnh.

Hiện nay, tỉ lệ đóng góp vào quỹ hưu trí - tử tuất của lao động bằng 8% tiền lương làm căn cứ tính đóng bảo hiểm xã hội, còn với người sử dụng lao động là 14%. Cạnh đó, chủ sử dụng lao động còn đóng 3% vào quỹ ốm đau - thai sản và 0,5% vào quỹ tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp.

Còn Luật Việc làm 2025 quy định, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng gần nhất trước khi nghỉ việc. Trong khi đó, tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp không quá 20 lần mức lương tối thiểu vùng.

Như vậy khi lương tối thiểu tăng, tiền lương tối đa làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp tại 4 vùng sẽ tăng lên tương ứng. Vùng 1 là 114 triệu đồng/tháng, vùng 2 là 101,6 triệu đồng/tháng, vùng 3 là 89 triệu đồng/tháng và vùng 4 là 80,8 triệu đồng/tháng.

Cũng ở luật này, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng tối đa không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng. Từ 1-1-2027, trợ cấp thất nghiệp hằng tháng cao nhất vùng 1 có thể lên đến 28,5 triệu đồng và vùng 4 là 20,2 triệu đồng.

Bộ luật Lao động 2019 còn quy định nếu ngừng việc do sự cố về điện, nước; thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, di dời địa điểm sản xuất hoặc lý do kinh tế thì tiền lương ngừng việc do 2 bên thỏa thuận nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu.

Như vậy với lương tối thiểu tăng, sàn tiền lương ngừng việc cũng tăng tương ứng lên 5,7 triệu đồng ở vùng 1; 5,08 triệu đồng ở vùng 2; 4,45 triệu đồng ở vùng 3 và 4,04 triệu đồng ở vùng 4.

Khi người lao động được điều chuyển sang công việc khác so với hợp đồng, tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% tiền lương của công việc cũ, song không được thấp hơn lương tối thiểu vùng.

Vì vậy, từ 1-1-2027, doanh nghiệp phải bảo đảm mức lương thấp nhất tương ứng là 5,7 triệu đồng; 5,08 triệu đồng; 4,45 triệu đồng và 4,04 triệu đồng tương ứng từng vùng.

Tăng lương tối thiểu, trợ cấp thất nghiệp cũng tăng   - Ảnh 2.Tăng lương tối thiểu vùng từ 1-1-2027, cao nhất tăng tới 390.000 đồng

Chính phủ vừa có nghị định tăng lương tối thiểu vùng, mức tăng cao nhất là 390.000 đồng, áp dụng từ ngày 1-1-2027.

Nghị định số 399/2026 của Chính phủ vừa ban hành quy định điều chỉnh tăng lương tối thiểu vùng từ ngày 1-1-2027 với mức tăng cao nhất 390.000 đồng. Theo khung mới, mức lương tối thiểu tại vùng 1 đạt 5,7 triệu đồng/tháng, vùng 2 là 5,08 triệu đồng/tháng, vùng 3 là 4,45 triệu đồng/tháng và vùng 4 là 4,04 triệu đồng/tháng. Việc nâng mức sàn này trực tiếp thúc đẩy mặt bằng thu nhập của nhóm lao động hưởng lương thấp nhất trong doanh nghiệp. Sự biến động của lương tối thiểu vùng kéo theo trần căn cứ đóng và mức chi trả bảo hiểm thất nghiệp theo Luật Việc làm 2025. Tiền lương tháng tối đa làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp không quá 20 lần lương tối thiểu, đạt mức 114 triệu đồng tại vùng 1 và 80,8 triệu đồng tại vùng 4. Đồng thời, mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng tối đa khống chế ở mức 5 lần lương tối thiểu, cho phép người lao động vùng 1 nhận cao nhất 28,5 triệu đồng và vùng 4 nhận tối đa 20,2 triệu đồng. Bên cạnh đó, mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người sử dụng lao động và người lao động cũng ghi nhận sự gia tăng tương ứng theo tiền lương thực tế. Bộ luật Lao động 2019 cũng ràng buộc sàn tiền lương ngừng việc và mức chi trả khi điều chuyển tạm thời sang công việc mới đều không được thấp hơn lương tối thiểu vùng. Quy định này thiết lập lưới an sinh tài chính vững chắc hơn cho người lao động khi đối mặt với rủi ro gián đoạn việc làm.
amung