Tiếp tục Phiên họp thứ 6, chiều 24/9, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.
Tờ trình do Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh trình bày nêu rõ, việc xây dựng Luật nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng về phát triển công nghiệp văn hóa và các kết luận, chỉ đạo có liên quan.
Đồng thời, hoàn thiện hành lang pháp lý, khắc phục những khoảng trống, điểm nghẽn, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế-xã hội trong giai đoạn mới.
Theo Bộ trưởng, Việt Nam có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển công nghiệp văn hóa, nhưng kết quả đạt được chưa tương xứng. Chuỗi liên kết từ sáng tạo, sản xuất, phân phối đến tiêu dùng sản phẩm văn hóa còn hạn chế; cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển thị trường, huy động nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh chưa đồng bộ.
Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự bùng nổ của các nền tảng số xuyên biên giới, để thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, cần hành lang pháp lý đủ mạnh để bảo vệ các nhà sản xuất nội dung trong nước trước sự cạnh tranh từ nước ngoài, đồng thời định hướng phát triển các nền tảng phân phối nội dung số nội địa, một khung khổ pháp lý đủ sức "kiến tạo" và "bảo vệ".
Từ cơ sở chính trị và thực tiễn nêu trên, việc ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là đòi hỏi cấp bách nhằm khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo, gia tăng hàm lượng văn hóa trong các sản phẩm, dịch vụ, bảo vệ thị trường nội địa và tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng bứt phá của đất nước.
Giải quyết các vấn đề then chốt để thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa
Về bố cục và các nội dung cơ bản, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh cho biết, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội bao gồm 9 chương và 53 điều, tập trung giải quyết các vấn đề mang tính then chốt để thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa thông qua 7 nhóm nội dung:
Thứ nhất, phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.
Dự thảo Luật quy định 4 nhóm nội dung chính, gồm: cơ chế pháp lý để phát triển và sử dụng Bộ công cụ sáng tạo trong các ngành công nghiệp văn hóa; các chủ thể tham gia và hoạt động hỗ trợ hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; các hoạt động hỗ trợ về thông tin, chuỗi giá trị, sở hữu trí tuệ, định giá tài sản trí tuệ, chuyển đổi số và xây dựng thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa; thử nghiệm, ứng dụng khoa học, công nghệ và triển khai sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới trong công nghiệp văn hóa.
Thứ hai, tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa.
Dự thảo Luật quy định 4 nhóm nội dung chính, gồm: mã định danh tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa; hồ sơ tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa; công cụ hỗ trợ xác thực chủ thể, kết nối dữ liệu, đăng ký quyền sở hữu trí tuệ và lập hồ sơ; các biện pháp nâng cao năng lực định giá tài sản trí tuệ.
Thứ ba, nhân lực công nghiệp văn hóa.
Dự thảo Luật quy định 4 nhóm nội dung chính, gồm: Khung năng lực trong các ngành công nghiệp văn hóa; chính sách phát huy nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia, nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong các ngành công nghiệp văn hóa; hỗ trợ học bổng, miễn, giảm học phí và tín dụng chính sách đối với người học các ngành, nghề ưu tiên về công nghiệp văn hóa; thu hút, trọng dụng nhân lực chất lượng cao và nhân tài công nghiệp văn hóa.
Thứ tư, hạ tầng công nghiệp văn hóa.
Dự thảo Luật quy định 6 nhóm nội dung chính, gồm: công trình phục vụ công nghiệp văn hóa; tổ hợp sáng tạo văn hóa; cơ chế hình thành, tổ chức hoạt động của cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; sử dụng không gian công cộng cho hoạt động công nghiệp văn hóa; hoạt động công nghiệp văn hóa trong các dự án đầu tư xây dựng; phát triển hạ tầng văn hóa số.
Thứ năm, thị trường công nghiệp văn hóa.
Dự thảo Luật quy định 5 nhóm nội dung chính, gồm: tiêu chí xác lập sản phẩm công nghiệp văn hóa có bản sắc Việt Nam; xác lập tài sản trí tuệ gốc trọng điểm, sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm; hỗ trợ nâng cao năng lực cho doanh nghiệp công nghiệp văn hóa; các nội dung nền tảng để xác lập và vận hành Sàn giao dịch công nghiệp văn hóa; chính sách thúc đẩy tiêu dùng như Thẻ văn hóa quốc gia và chương trình kích cầu tiêu dùng.
Thứ sáu, tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư.
Dự thảo Luật quy định 4 nhóm nội dung chính, gồm: nguồn tài chính cho phát triển công nghiệp văn hóa, theo hướng không thành lập quỹ mới, tiếp tục sử dụng các nguồn kinh phí hiện hành; chính sách hỗ trợ, ưu đãi đầu tư phát triển hạ tầng và sản phẩm công nghiệp văn hóa; chính sách hoàn thuế giá trị gia tăng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài đến quay phim tại Việt Nam; miễn thuế thu nhập cá nhân trong 5 năm đối với nhân lực công nghiệp văn hóa chất lượng cao.
Thứ bảy, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nội dung phân quyền, phân cấp.
Thực hiện quy định của Luật Tổ chức Quốc hội, dự thảo Luật không trực tiếp quy định các thủ tục hành chính; giao trực tiếp các nội dung thuộc thẩm quyền của Chính phủ, các bộ, ngành; tăng cường phân cấp cho địa phương quy định cụ thể các chính sách được quy định tại dự thảo Luật bảo đảm có thể triển khai ngay trên thực tế đồng bộ, thống nhất và hiệu quả.
Bộ trưởng cho biết, thời gian dự kiến trình Quốc hội xem xét dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI (tháng 10/2026).
Hồ sơ dự án Luật được chuẩn bị đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định
Trình bày Báo cáo thẩm tra sơ bộ dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết, Thường trực Ủy ban tán thành sự cần thiết ban hành Luật. Hồ sơ dự án Luật được chuẩn bị đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định.
Tuy nhiên, đây là dự án Luật được xây dựng mới, xác lập nhiều nội dung, cơ chế, chính sách đặc thù; do đó, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Thường trực Ủy ban lưu ý tuân thủ nguyên tắc: Luật chỉ quy định những vấn đề có tính nguyên tắc, thuộc thẩm quyền của Quốc hội; không quy định lại những chính sách đã được các luật chuyên ngành, luật khác quy định.
Đồng thời, đánh giá cụ thể hơn tác động, tính khả thi của các quy định, chính sách mới; các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước; tiếp tục rà soát các quy định về phân quyền, phân cấp. Những nội dung có phạm vi điều chỉnh trong cả nước, có yếu tố quốc tế cần giao Chính phủ và các Bộ quy định; chỉ phân quyền, phân cấp cho địa phương các nội dung phù hợp, khả thi.
Về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội cơ bản nhất trí với phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của dự thảo Luật; đề nghị tiếp tục rà soát, xác định rõ đối tượng áp dụng trong nước và ngoài nước, nhất là các chủ thể nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công nghiệp văn hóa vào thị trường Việt Nam, hoạt động qua nền tảng số xuyên biên giới hoặc khai thác “tài sản trí tuệ” thuộc phạm vi bảo hộ tại Việt Nam.
Về tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa, Thường trực Ủy ban nêu rõ, định giá là khâu đầu tiên quyết định tính khả thi của các chính sách góp vốn, thế chấp, giao dịch "tài sản trí tuệ". Trong thực tiễn, việc định giá loại tài sản này còn rất khó khăn; ở nước ta chưa có nhiều kinh nghiệm về tổ chức và phương pháp định giá. Do đó, đề nghị chỉ quy định nguyên tắc định giá tài sản trí tuệ trong công nghiệp văn hóa, vai trò quản lý nhà nước trong định giá.
Về tài chính, hỗ trợ, ưu đãi đầu tư, cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ phạm vi hỗ trợ, cơ chế miễn trừ trách nhiệm của chính sách đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghiệp văn hóa; xác định rõ dự án đầu tư trong phát triển công nghiệp văn hóa cần ưu tiên thu hút đầu tư; rà soát, làm rõ cơ sở pháp lý, phạm vi đối tượng thụ hưởng của các chính sách hỗ trợ về thuế, tài chính...
Chủ nhiệm Nguyễn Đắc Vinh cho biết, Hồ sơ dự án Luật đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét tại Kỳ họp thứ 2 sau khi cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu tiếp thu và giải trình đầy đủ các nội dung theo ý kiến thẩm tra tại Báo cáo này, ý kiến tham gia thẩm tra của các cơ quan của Quốc hội và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Thường trực Ủy ban nhận thấy, đây là dự án Luật mới, còn nhiều ý kiến khác nhau, cần thời gian để nghiên cứu, tiếp thu kỹ lưỡng; đề nghị xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XVI.
VĂN TOẢN